vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 -Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T - đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật hình sự giảm nhẹ mức phạt; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
thÞ x· q
tØnh qu¶ng ninh
B¶n ¸n sè: 02/2018/HSST
Ngµy: 08.01.2019
(Án gốc)
Nh©n danh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Tßa ¸n nh©n d©n thÞ x· Q - qu¶ng ninh

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö g«m cã:

- ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: ¤ng Nguyễn Chí Mạnh

- C¸c Héi thÈm nh©n d©n:

1.Ông Đàm Chí Thân

2. Ông Lưu Đình Lý

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Tố Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh- Tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương- Chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 08/01/2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Q đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2018/HS-ST ngày 13/12/2018 đối với bị cáo:

I.Họ và tên: Nguyễn Văn T – Giới tính: Nam - Sinh ngày 25/7/1957, tại thị xã Q- Nơi cư trú: Khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh- Quốc tịch: Việt Nam- Dân tộc: Kinh- Tôn giáo: Không- Nghề nghiệp: Lao động tự do- Trình độ học vấn: 07/10- Họ và tên bố: Nguyễn Văn T (Đã chết)- Họ và tên mẹ: Dương Thị L (Đã chết)- Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình- Vợ: Phạm Thị H – Sinh năm 1961, trú tại: Khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh- Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1987- Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo hiện tại ngoại nơi cư trú.

- (Có mặt tại phiên tòa).

II. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Dương T3 T1, sinh năm 1992, trú tại: Khu Quyết Thành, thị trấn Minh Đức, huyện N1, TP Hải Phòng- Vắng mặt.

2.Đàm Quang T2, sinh năm 1981, trú tại: Khu 3, phường NH, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh- vắng mặt.

3. Đoàn Văn T3, sinh năm 1997, trú tại: Khu 3, phường YG, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh- Vắng mặt.

4. Chị Nguyễn Thị Mai P, sinh năm 1992, trú tại: Khu Quyết Thành, thị trấn Minh Đức, huyện N1, TP Hải Phòng- Vắng mặt.

III. Người làm chứng:

1. Ông Vũ Văn H, sinh năm 1966, trú tại: Khu Rạng Thông, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 11 năm 2017, Nguyễn Văn T mở quán bán hàng nước để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức Lô-Đề được Ta bằng tiền tại khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/9/2018 , trong lúc T có việc phải ra ngoài, T có nhờ D T3 T1 là con rể của T trông quán nước và ghi hộ số lô-đề thì có Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 đến hỏi mua lô-đề. T1 ghi số 58 với số điểm 100 điểm, tương đương với số tiền là 2.300.000đ, ghi số đề 37,73 mỗi số 100.000 đồng vào một tờ tích kê cho T2. Ngay lúc đó T về thấy T1 đang ghi số lô- đề cho T2, T2 bảo ghi thêm số 62 với số tiền 100.000 đồng thì T ghi thêm một tờ tích kê cho T2 và T số tiền 2.600.000 đồng. Đoàn Văn T3 mua số 46 với 60 điểm với số tiền là 1.380.000 đồng, số 24 với 50 điểm tương đương số tiền là 1.150.000 đồng, số đề 58 với số tiền 20.000 đồng, T ghi số lô- đề vào một tờ tích kê, tính số tiền đánh bạc cho T3 là 2.550.000 đồng. Khi T3 giao số tiền cho T thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang và T giữ vật chứng gồm: T giữ trên người Đàm Quang T2 2 tờ tích kê ghi số lô- đề; T giữ trên người Đoàn Văn T3 một tờ tích kê ghi số lô- đề; T giữ của Nguyễn Văn T số tiền mặt là 5.150.000đồng, một quyển tích kê dùng để ghi số lô- đề, một máy fax màu đen, 04 tờ giấy than và 03 tờ tích kê ghi lô- đề bán cho T2 và T3, T giữ của T một điện thoại nhãn hiệu ITEL màu đen. Ngoài ra cơ quan điều tra còn T của T1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: T đánh bạc bằng hình thức lô- đề từ tháng 11 năm 2017. Việc làm chủ lô- đề do một mình T thực hiện, không chung với ai. Trong quá trình đánh bạc Nguyễn Thị Mai P là con gái T và Dương T3 T1 là con rể giúp hộ một số việc ghi lô- đề một số lần nhưng T không chia lợi nhuận cho P và T1. Về P thức đánh bạc T khai:

-Việc chơi lô- đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc. Đối với chơi đề, hình thức chơi 2 số, nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày chơi đó thì trúng thưởng theo tỷ lệ gấp 70 lần. Hình thức chơi 3 số (ba càng) nếu trúng với ba số cuối của giải đặc biệt thì người chơi được nhận số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra để mua số đề.

-Đối với chơi lô: Nếu trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào trong kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày chơi đó, thì trúng thưởng theo tỷ lệ một điểm được 80 nghìn đồng. Một điểm người chơi lô phải trả là 23.000 đồng. P thức chơi xiên hai, xiên ba, xiên bốn: Người chơi chọn hai cặp số (xiên hai), bà cặp số (xiên ba), bốn cặp số (xiên bốn), nếu trúng các cặp số cuối của các giải trúng thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc, thì người trúng thưởng theo tỷ lệ; xiên hai trúng thưởng gấp mười lần, xiên ba trúng thưởng gấp 40 lần, xiên bốn trúng thưởng gấp 120 lần số tiền người chơi bỏ ra. Nếu người chơi không trúng thì T sẽ được toàn bộ số tiền người mua lô, đề bỏ ra, nếu người chơi thắng thì T sẽ phải trực tiếp trả tiền cho những người trúng lô, đề theo tỷ lệ như trên.

Quá trình điều tra còn xác định được Dương T3 T1 và Nguyễn Thị Mai P giúp T bán lô, đề một ngày. Cụ thể: Ngày 22/11/2017 T1 ghi hộ số đề cho T với số tiền 2.350.000 đồng, ngày 23/11/2017 số tiền 1.915000 đồng, hai ngày này không có ai trúng thưởng, ngày 14/4/2018, đánh bạc 3.200.000 đồng bao gồm tiền bán lô, đề và tiền trúng thưởng. Sau khi ghi số lô, đề cho các con bạc không rõ lai lịch, T1 chụp ảnh rồi chuyển qua tin nhắn zalo cho P để P kiểm tra lại sau đó chuyển cho T, còn số tiền bán lô, đề T1 T vào các ngày trên chuyển toàn bộ cho bị cáo T.

- Bản Cáo trạng số: 71/KSĐT-HS ngày 29/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc”.

*Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ cơ sở cấu thành tội: “Đánh bạc”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1,3 Điều 321, khoản 3 Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1,2, 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tuyên tịch T, sung ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc là 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) máy Fax màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, số IMEL 354975084459804 và IMEL 354975084459812, đã qua sử dụng.

-Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.

-Bị cáo nói lời sau cùng: Tại phiên tòa bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ: Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Từ khoảng tháng 11 năm 2017 bị cáo Nguyễn Văn T mở quán bán hàng nước để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức lô-đề được Ta bằng tiền tại nhà riêng Tộc khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/9/2018 , trong lúc bị cáo T có việc phải ra ngoài, T có nhờ Dương T3 T1 là con dể của T trông quán nước và ghi hộ số lô- đề, thì có Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 đến hỏi mua lô- đề. T1 ghi số 58 với số điểm 100 điểm, tương đương số tiền là 2.300.000 đồng, ghi số đề 37,73 mỗi số 100.000 đồng vào một tờ tích kê cho T2. Ngay lúc đó T về thấy T1 đang ghi số lô- đề cho T2, T2 bảo ghi thêm số 62 với số tiền 100.000 đồng thì T ghi thêm một tờ tích kê cho T2 và T số tiền 2.600.000 đồng. Đoàn Văn T3 mua số 46 với 60 điểm với số tiền là 1.380.000 đồng, số 24 với 50 điểm tương đương số tiền là 1.150.000 đồng, số đề 58 với số tiền 20.000 đồng, T ghi số lô- đề vào một tờ tích kê, tính số tiền đánh bạc cho T3 là 2.550.000 đồng. Khi T3 giao số tiền cho T thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang và T giữ vật chứng.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

-Anh Dương T3 T1 có lời khai: Vào khoảng 07 giờ ngày 22/9/2018 T1 cùng vợ là Nguyễn Thị Mai P và con trai từ huyện N1, TP Hải Phòng sang nhà bố vợ là Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú tại: Khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh chơi. Đến khoảng 17 giờ ngày 23/9/2018 thì bố vợ T1 có việc phải đi ra ngoài nên nhờ T1 trông quán bán nước chè và ghi số lô- đề cho những người nào có nhu cầu đánh lô- đề. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì có hai T3 niên là Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 đến hỏi mua lô- đề. T1 ghi số 58 với số điểm 100 điểm, tương đương số tiền là 2.300.000đ, ghi số đề 37,73 mỗi số 100.000 đồng vào một tờ tích kê cho T2. Ngay lúc đó T về thấy T1 đang ghi số lô- đề cho T2, T2 bảo ghi thêm số 62 với số tiền 100.000 đồng thì T ghi thêm một tờ tích kê cho T2 và T số tiền 2.600.000 đồng. Đoàn Văn T3 mua số 46 với 60 điểm với số tiền là 1.380.000 đồng, số 24 với 50 điểm tương đương số tiền là 1.150.000 đồng, số đề 58 với số tiền 20.000 đồng, T ghi số lô- đề vào một tờ tích kê, tính số tiền đánh bạc cho T3 là 2.550.000 đồng. Khi T3 giao số tiền cho T thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang và T giữ vật chứng. Anh T1 xác nhận chỉ được bố vợ là Nguyễn Văn T nhờ ghi hộ số lô- đề cho những người có nhu cầu chơi chứ anh không thỏa Tận hay được ăn chia gì đối với Nguyễn Văn T và khi bán lô- đề cho T2 anh cũng không trực tiếp T tiền mà do bố vợ anh là Nguyễn Văn T là người trực tiếp T tiền.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác: Các anh Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 có lời khai như sau. Khoảng 17 giờ ngày 23/9/2018 các anh có đến quan bán nước chè của Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú tại: Khu 2, phường Q, thị xã Q để so kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc. Lúc này có Dương T3 T1 là con rể của Nguyễn Văn T đang ngồi bán hàng và trực tiếp ghi số lô- đề, các anh có bảo mua số đề, anh Đàm Quang T2 hỏi mua lô- đề, T1 ghi số 58 với số điểm 100 điểm, tương đương số tiền là 2.300.000 đồng, ghi số đề 37,73 mỗi số 100.000 đồng vào một tờ tích kê cho anh T2. Ngay lúc đó T về thấy T1 đang ghi số lô- đề cho T2, T2 bảo ghi thêm số 62 với số tiền 100.000 đồng thì T ghi thêm một tờ tích kê cho T2 và T số tiền 2.600.000đồng. Anh Đoàn Văn T3 mua số 46 với 60 điểm với số tiền là 1.380.000 đồng, số 24 với 50 điểm tương đương số tiền là 1.150.000 đồng, số đề 58 với số tiền 20.000 đồng, T ghi số lô- đề vào một tờ tích kê, tính số tiền đánh bạc cho T3 là 2.550.000 đồng. Khi T3 giao số tiền cho T thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang và T giữ vật chứng. (BL: 120->134).

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mai P có lời khai trình bày: Vào khoảng 07 giờ ngày 22/9/2018 chị P cùng chồng là Dương T3 T1 và con trai từ huyện N1, TP Hải Phòng sang nhà bố đẻ chị là Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú tại: Khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh chơi. Đến khoảng 17 giờ ngày 23/9/2018 thì bố chị có việc phải đi ra ngoài nên nhờ chồng chị là anh T1 trông quán bán nước chè và ghi hộ số lô- đề cho những người nào có nhu cầu đánh lô- đề. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì có hai T3 niên là Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 đến hỏi mua lô- đề. Lúc này anh T1 ghi số 58 với số điểm 100 điểm, tương đương số tiền là 2.300.000 đồng, ghi số đề 37,73 mỗi số 100.000 đồng vào một tờ tích kê cho T2. Ngay lúc đó bố chị về thấy T1 đang ghi số lô- đề cho T2, T2 bảo ghi thêm số 62 với số tiền 100.000 đồng thì bố chị ghi thêm một tờ tích kê cho T2 và T số tiền 2.600.000 đồng. Đoàn Văn T3 mua số 46 với 60 điểm với số tiền là 1.380.000 đồng, số 24 với 50 điểm tương đương số tiền là 1.150.000 đồng, số đề 58 với số tiền 20.000 đồng, Bố chị ghi số lô- đề vào một tờ tích kê, tính số tiền đánh bạc cho T3 là 2.550.000 đồng. Khi T3 giao số tiền cho bố chị thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang và T giữ vật chứng. (BL: 135->142).

Người làm chứng: Ông Vũ Văn Hà có lời khai: Vào khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 23/9/2018 ông được chứng kiến lực lượng Công an thị xã Q đang bắt quả tang các đối tượng đánh bạc được T bằng tiền bằng hình thức lô-đề. Các đối tượng khai như sau, đối tượng mua số lô- đề là Đoàn Văn T3, sinh năm 1997, trú tại: Khu 3, phường YG, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và Đàm Quang T2, sinh năm 1981, trú tại: Khu 3, phường NH, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Người bán lô- đề là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú tại: Khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và Dương T3 T1, sinh năm 1992, trú tại: Khu Quyết Thành, thị trấn Minh Đức, huyện N1, TP Hải Phòng. Tại thời điểm bắt quả tang Công an T giữ số tiền 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) cùng một số dụng cụ, giấy tờ dùng vào việc đánh bạc gồm các tờ giấy tích kê, giấy than, 01 máy Fax. Sau đó Công an niêm phong vật chứng và đưa những người cùng đánh bạc dưới hình thức lô- đề cùng tang vật về trụ sở Công an thị xã để làm việc. (BL: 145->148).

Tại biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh lập hồi17 giờ 30 phút ngày 23/9/2018 thể hiện: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 23/9/2018 tại nhà Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 Tộc: Khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T, Dương T3 T1, Đoàn Văn T3, Đàm Quang T2 đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức lô- đề được Ta bằng tiền với số tiền là 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) và một số dụng cụ dùng đánh bạc. Các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đánh bạc bằng hình thức lô- đề. (BL: 28,29,30,31).

-Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo trước tòa, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai xác nhận của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ c¬ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 23/9/2018 tại khu 2, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, bij cáo Nguyễn Văn T có hành vi đánh bạc được T bằng tiền dưới hình thức ghi lô- đề với Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 với số tiền 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) thì bị Công an thị xã Q phát hiện bắt quả tang T giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321- Bộ luật hình sự. Như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T là người đã trưởng thành, có nhận thức hiểu được pháp luật, biết được Nhà nước quy định cấm đánh bạc được Ta bằng tiền với bất kỳ hình thức nào, nếu ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, hám lợi, không chịu làm ăn lương thiện mà lại lấy cờ bạc bằng hình thức ghi lô đề để T lời bất chính phục vụ chi tiêu cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, gây mất trật tự tại địa P, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, gảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

-Tình tiết tăng nặng: Không có.

-Tình tiết giảm nhẹ: Xét tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tiền án tiền sự chưa có, phạm tội lần đầu Tộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo mà để chính quyền địa P cũng như gia đình bị cáo giám sát giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321- Bộ luật hình sự cần phạt bị cáo một khoản tiền để sung ngân sách Nhà nước. Nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên áp dụng khoản 3 Điều 35- Bộ luật hình sự giảm nhẹ mức phạt cho bị cáo.

Trong vụ án này có các đối tượng là Dương T3 T1, Nguyễn Thị Mai P, Đàm Quang T2, Đoàn Văn T3 có hành vi đánh bạc với bị cáo Nguyễn Văn T. Nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, Công an thị xã Q đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đánh bạc thông qua sự trợ giúp của T1, P vào các ngày 22,23 tháng 11 năm 2017 và ngày 14/4/2018, chưa đến mức xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Q đã Quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo T.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án gồm:

-Tiền VNĐ 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Xét đây là tang vật vụ án nên cần tịch T sung ngân sách Nhà nước.

-Đối với 01 (Một) máy Fax màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, số IMEL 354975084459804 và IMEL 354975084459812, đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa chứng minh bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo.

-Ngoài ra còn T giữ của Dương T3 T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

-Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 -Bộ luật hình sự.

-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

-Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và gia đình bị cáo giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

-Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

-Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự

-Áp dụng: Điểm d khoản 1 Điều 125- Bộ luật tố tụng hình sự.

-Hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú số: 53/LCĐKNCT ngày 29/9/2018 của Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

-Áp dụng: Khoản 1 Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tuyên tịch T, sung ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc là 5.150.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) máy Fax màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, số IMEL 354975084459804 và IMEL 354975084459812, đã qua sử dụng. (Vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2018 giữa Công an thị xã Q,tỉnh Quảng Ninh và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q).

-Áp dụng: Khoản 3 Điều 321, khoản 3 Điều 35- Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 3.000.000đ (Ba triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

-Áp dụng: Điều 135, khoản 2 Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. -Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ- SƠ THẨM N¬i nhËn:

Thẩm Phán- Chủ tòa phiên tòa -TAND tỉnh; -VKS tỉnh, Tx Q; -T.H.A.DS; -Sơ tư pháp tỉnh QN. -Công an Tx -THA phạt tù, bị cáo -UBND P Q,Tx Q -Lưu Hồ sơ, VP

Nguyễn Chí Mạnh C¸c h«i thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n- chñ to¹n phiªn Tßa

NguyÔn H÷u ChÝ

Vò C«ng So¹n

NguyÔn ChÝ M¹nh

Cỡ chữ