- Tranh chấp gì? "bị cáo Trương Tuân Hải - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Tuấn H phạm tội “ Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè:02/2022/HSST Ngµy:20/01/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP- TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Đức Hải
- Ông Hoàng Trọng Lượng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Cấn Trường Trung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2021/TLHS ngày 16 tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXX-ST ngày 10/12/2021 đối với bị cáo:
Trƣơng Tuấn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 25/4/1952 , tại xã P huyện N tỉnh N.
Nơi cư trú: Khu Đ xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ;
Danh chỉ bản số 105 do Công an huyện Yên Lập lập ngày 13/9/2021.
Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Trình độ học vấn: 10/10;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Trương Văn Tuất, con bà Vũ Thị Tư (Đều đã chết);
Bị cáo có vợ là: Nguyễn Thị Đáp, sinh năm 1957, nay sống tại thành phố Hà Nội; Bị cáo có 04 người con.
Tiền sự: Tại quyết định xử phạt hành chính số 25/QĐXPHC ngày 18/4/2021 của Công an xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập xử phạt tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Đã nộp phạt ngày 18/4/2021.
Tiền án: Chưa có tiền án;
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo được tại ngoại tại xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ - Hôm nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1952 ở xã N, huyện C, tỉnh P - Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Chị Trịnh Thị Hải V, sinh năm 1985 ở khu Q xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1986 ở khu X, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 27/8/2021 anh Nguyễn Văn D vào nhà bị cáoTrương Tuấn H chơi, đến khoảng 21 giờ cùng ngày có Trịnh Thị Hải V và Hoàng Thị H đến chơi, trong khi ngồi chơi, các đối tượng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý, Trương Tuấn H đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài rồi cùng các đối tượng ngồi chơi tại giường ngủ được kê giữa nhà H.
Hình thức chơi: Trước khi chơi, người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân trộn đều và chia cho mỗi người 09 lá, người đánh đầu tiên được 10 lá, số bài còn lại được để trên chiếu gọi là nọc. “Phỏm” là 03 quân bài cùng số thứ tự, ký hiệu hoặc có số thứ tự, ký hiệu liên tiếp cùng chất, “Ù” là người chơi có 03 phỏm, “Cháy” là khi kết thúc ván bài, người chơi không ghép được phỏm nào. Người chơi đánh theo thứ tự từ phải sang trái, người đánh đầu tiên đánh 01 quân bài bất kỳ trên tay, người ngồi kế tiếp có thể ăn quân bài đó nếu kết hợp được thành phỏm, nếu không ăn thì bốc 01 quân bài dưới nọc và đánh 01 quân bài bất kỳ trên tay cho người chơi liền sau. Cứ như vậy cho đến khi ván bài kết thúc. Ván bài kết thúc khi có 01 người chơi “Ù” (số bài trên tay kết hợp thành 03 phỏm) hoặc khi kết thúc 04 vòng đánh. Nếu không có ai ù thì người chơi hạ phỏm và tính tổng điểm các quân bài còn lại trên tay (điểm từng quân bài tính theo số của quân bài, A = 1, J = 11, Q = 12, K = 13), người thắng là người có tổng điểm thấp nhất, nếu điểm bằng nhau thì người hạ bài trước là người thắng. Người thắng bạc sẽ được những người chơi khác trả tiền theo thứ tự sau: Người về nhì 10.000 đồng, về ba 20.000 đồng, về bét 30.000 đồng, cháy 40.000 đồng. Nếu có người chơi ù thì mỗi người chơi còn lại phải trả cho người “Ù” 50.000 đồng. Người về nhất sẽ được đánh trước ở ván kế tiếp. Các đối tượng đánh bạc đến 22 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an xã Mỹ Lương kiểm tra phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 mành cọ đã cũ và số tiền 730.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc cụ thể như sau: Trương Tuấn H có 200.000 đồng, Nguyễn Văn D có 200.000 đồng, Trịnh Thị Hải V có 70.000 đồng, Hoàng Thị H có 260.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 730.000 đồng. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Mặc dù số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng đối với Trương Tuấn H đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Tại Quyết định xử phạt hành chính số 25/QĐXPHC ngày 18/4/2021 của Công an xã Mỹ Lương xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, H đã chấp hành nộp phạt xong ngày 18/4/2021; Vì vậy hành vi lần này của H đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với Trịnh Thị Hải V, Hoàng Thi H, Nguyễn Văn D chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên hành vi của V, H, D không cấu thành tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện Yên Lập xử lý hành chính.
Ngày 10/9/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lập đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trương Tuấn H về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về nguyên nhân, điều kiện và mục đích phạm tội: Do hám lợi, muốn có tiền để tiêu xài nên Trương Tuấn H và những người liên quan đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 bộ bài 52 quân, 01 mành cọ và 730.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Vật chứng được bảo quản, xem xét xử lý trong quá trình giải quyết vụ án.
Về tài sản và nguồn thu nhập bị cáo Trương Tuấn H không có tài sản riêng, nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập 1.000.000 đồng/ tháng.
Trong vụ án này, Trương Tuấn H có hành vi chuẩn bị bộ bài tú lơ khơ và sử dụng nhà ở của mình để đánh bạc, hành vi này của bị cáo nhằm mục đích thỏa mãn việc đánh bạc của mình, do vậy được xem xét xử lý H về hành vi đánh bạc.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn D, chị Trịnh Thị Hải V, chị Hoàng Thị H đều vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án có nội dung: Những người này cùng bị cáo H thực hiện hành vi đánh bạc như H khai báo, những người này bị cơ quan có thẩm quyền thu tiền dùng đánh bạc cùng với bị cáo H và không yêu cầu gì đối với các khoản tiền đó.
Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Tuấn H phạm téi “Đánh bạc”; Áp dụng khoản 1,3 điều 321 điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Tuấn H; Phạt bị cáo Trương Tuấn H từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ,
Phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo Trương Tuấn H, số tiền từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ.
Khấu trừ 10% thu nhập đối với bị cáo Trương Tuân H (1.000.000đ:100x10) = 100.000đ/tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 730.000đ vì đây là tiền các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm; Tịch thu để tiêu hủy 01 bộ bài 52 quân, 01 mành cọ do không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí luận tội không có ý kiến gì tranh luận;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án có nội dung không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi đánh bạc, bị cáo hứa sẽ không bao giờ vi phạm pháp luật nữa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian địa điểm nơi xảy ra vụ án; phù hợp với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 21 giờ ngày 27/8/2021 bị cáo H đã cùng anh D, chị H và chị V đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức “đánh phỏm” sát phạt nhau bằng tiền tại nhà ở của bị cáo H ở khu Đồng Ve xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ, bị cáo H và những người nêu trên đã sử dụng tổng số tiền 730.000đ để đánh bạc nhưng bị cáo H đã có một tiền sự về hành vi đánh bạc và đã bị xử phạt hành chính chưa được xóa án tích do đó hành vi đánh bạc của bị cáo lần này mặc dù chỉ sử dụng số tiền 200.000đ nhưng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự; Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện tại nơi đông dân cư sinh sống hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội là đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân; Vì vậy hành vi đánh bạc của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về nhân thân của bị cáo: Qua xem xét lý lịch thì thấy bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, bị cáo đã có một tiền sự bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn vi phạm pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận, ngoài ra bị cáo H còn được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đó là bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, trên cơ sở thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cũng như thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật hình sự đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo, cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng; Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
.Về khấu trừ thu nhập: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận vì: Bị cáo có thu nhập hàng tháng, tuy nhiên thu nhập không cao do đó chỉ cần buộc bị cáo phải khấu trừ 5% hàng tháng.
. Về vật chứng: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị hội đồng xét xử xử lý các vật chứng như đã nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Trong vụ án này còn có anh D, chị H, chị V cùng tham gia đánh bạc, hành vi của những người này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đã được cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận; Anh D, chị H, chị V tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì những người này đều sử dụng tiền để đánh bạc và bị tịch thu là vật chứng của vụ án, tại phiên tòa Anh D, chị H, chị V vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án có nội dung không đề nghị gì về quyền lợi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1, 3 điều 321, điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 36 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Trương Tuấn H.
- Tuyên bố: Bị cáo Trương Tuấn H phạm tội “ Đánh bạc”.
- Xử phạt: Trƣơng Tuấn H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trương Tuấn H cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo Trương Tuấn H.
Trường hợp bị cáo Trương Tuấn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 54/HSST-LC ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập đối với bị cáo Trương Tuấn Hải.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Trương Tuấn H số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Thời hạn bị cáo phải nộp tiền một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
+ Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ khấu trừ thu nhập 5% hàng tháng đối với bị cáo Trương Tuấn H số tiền là 50.000đồng/tháng (Năm mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
-Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1 điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+Tịch thu của Trương Tuấn H 200.000 đồng, Nguyễn Văn Dg 200.000 đồng, Trịnh Thị Hải V 70.000 đồng, Hoàng Thị H 260.000 đồng, tổng là 730.000đ (Bảy trăm ba mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước, đã nộp vào tài khoản của chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập số 39490105441200000.
+Tịch thu để tiêu hủy của Trương Tuấn H: 01 chiếu nhựa, 52 quân bài tú lơ khơ.
Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 16 tháng 11 năm 2021.
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của uỷ ban thường vụ Quốc hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc Bị cáo Trương Tuấn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Lập; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an huyện Yên Lập; - Bị cáo; - Thi hành án hình sự; - Chi cụcTHADS. H. Yên Lập; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bïi Xu©n Tr êng |