vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Bá T pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2022/HS - ST
Ngày 12 tháng 12 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ BẮC GIANG

Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Ông Nguyễn Văn Môn.

Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân T phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở TAND T phố Bắc Giang T hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 205/2022/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211A/2022/QĐXXST-HS ngày 30/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Bá T, sinh năm 1984

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 2, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, T phố H Phòng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 12/12.

Bố: Vũ Bá Minh, sinh năm 1958.

Mẹ: Nguyễn Thị Nhàn, sinh năm 1958.

Gia đình có 4 chị em, bị can là thứ 2.

Vợ: Phạm Thị Na, sinh năm 1984.

Có 2 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt tại phiên tòa).

*Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950 (đã chết)

Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân T, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1951; Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân T, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Văn D; Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân T, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Nguyễn Thị H; Địa chỉ: Tổ Tiền Giang, phường Lê Lợi, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của chị H và anh D là ông Nguyễn Văn X; sinh năm 1951; Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân T, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

*Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Công ty cổ phần tiếp vận Phúc T

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Nhật T – Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ: Số 47/23, đường Đoạn Xá, phường Đ H 1, quận H An, T phố H Phòng.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ 5, phường Ngô Quyền, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Bá T, sinh năm 1984 ở thôn 2, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, T phố H Phòng là nhân viên lái xe của Công ty cổ phần tiếp vận Phúc T có địa chỉ tại 47/23 đường Đoạn Xá, phường Đ H 1, quận H An, T phố H Phòng. T có giấy phép lái xe hạng FC số 310111013146 do Sở Giao thông vận tải T phố H Phòng cấp ngày 20/8/2021.

Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 17/8/2022, Vũ Bá T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C – 260.23 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R – 158.54 xuất phát từ khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đi T phố H Phòng. Đến khoảng 14 giờ 38 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi trên đường Võ Văn Kiệt hướng từ đường quốc lộ 17 đi đường tỉnh lộ 293, khi đi qua ngã tư giao nhau giữa đường Võ Văn Kiệt với đường đê thôn Ngò và đường đê thôn Văn Sơn thuộc địa phận xã Tân T, T phố Bắc Giang (ở đầu ngã tư có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên) thì lúc này bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950 ở thôn Ngò, xã Tân T, T phố Bắc Giang đi xe đạp từ đường đê thôn Ngò ra đường Võ Văn Kiệt và chuyển hướng sang làn đường hướng từ đường quốc 17 đi đường tỉnh lộ 293. Do không làm chủ tốc độ nên xe ô tô do T điều khiển đâm vào xe đạp do bà Đ điều khiển. Hậu quả làm bà Đ ngã ra đường bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang nhưng sau đó chết.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng: Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại khu vực gần ngã tư đường Võ Văn Kiệt giao đường đê thôn Ngò và đường đê thôn Văn Sơn, thuộc địa phận xã Tân T, T phố Bắc Giang. Đây là ngã tư giao nhau đồng cấp, không cùng mức. Đường Võ Văn Kiệt là đường ưu tiên có biển báo hiệu “W207a”, đây là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 15m. Đường đê thôn Ngò là đường không ưu tiên có biển báo hiệu giao với đường ưu tiên ký hiệu “W208” đây là đường hai chiều rộng. Đường Võ Văn Kiệt chọn cột đèn chiếu sáng ký hiệu T4-1/10A bên pH đường và chọn mép pH đường làm điểm mốc là mép chuẩn để mô tả hiện trường. Bên pH bên trái đường Võ Văn Kiệt tính theo chiều từ đường quốc lộ 17 đi đường tỉnh lộ 293.

(1) là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 15C - 260.23 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R - 158.54 đỗ trên đường Võ Văn Kiệt. Đầu xe chếch hướng Đ Bắc, đuôi xe chếch hướng Tây Nam. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước bên pH xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15R - 260.23 cách điểm mốc, mép chuẩn lần lượt là 9,65m và 4,3m. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh sau bên pH xe ô tô đầu kéo biển số 15C - 260.23 và tâm trục bánh sau bên pH sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R - 158.54 lần lượt là 4,3m và 7,1m.

(2) là vị trí xe đạp kiểu xe mi ni mầu xanh đổ nghiêng trái trên đường Võ Văn Kiệt, đầu xe chếch hướng Đ Nam, đuôi xe chếch hướng Tây Bắc. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước xe (2) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh trước xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C - 260.23 lần lượt là 3,6m và 0,6m. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe (2) cách mép chuẩn là 4,6m.

(3) là vị trí vết mài trượt cao su trên mặt đường Võ Văn Kiệt kích thước (23,3x0,5)m có chiều hướng từ Tây Nam sang Đ Bắc kết thúc tại vị trí bánh sau bên pH xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C - 260.23. Đo khoảng cách từ đầu vết 3 cách mép chuẩn là 7,1m.

(4) là vị trí vết cầy xước trên đường Võ Văn Kiệt kích thước 12m có chiều hướng từ Tây Nam sang Đ Bắc kết thúc tại vị trí xe 2. Đo khoảng cách từ đầu vết (4) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh trước xe (2) lần lượt là 4,6m và 1,2m (bút lục số 58 - 60).

Cơ quan điều tra đã trích xuất, thu giữ dữ liệu camera tại hiện trường ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ trên (bút lục số 112).

Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị Đ:

Vùng đỉnh chẩm trái có đám trợt da bầm tím kích thước (10x7)cm. Sau tai trái bầm tím kích thước (4x3)cm. Trước vai trái có đám bầm tím kích thước (13x10)cm. Bả vai trái có vết bầm tím kích thước (8x5)cm. Sườn lưng pH có đám bầm tím kích thước (10x2)cm. Mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân pH có hai vết trợt da kích thước (1x0,8)cm và (1x0,5)cm. Mặt ngoài 1/3 trên đùi trái có đám trợt da bầm tím kích thước (9x7)cm. Mặt trước đùi trái có hai vết bầm tím kích thước (7x5)cm và (8x6)cm. Mặt ngoài chân trái có vết trợt da kích thước (1x0,7)cm (bút lục số 97

- 98). Khám kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương nào khác; không mổ tử thi do gia đình từ chối giải phẫu tử thi (bút lục 97-98).

Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 15C - 260.23:

Mặt lưới tản nhiệt bên pH phía trước đầu xe tại vị trí thấp nhất cách đất 113cm có vết dập vỡ nhựa gãy nhựa, bề mặt có nhiều vết mài sát sạch bụi trên diện (13x13)cm. Biển số trước tại vị trí thấp nhất cách đất 43cm có nhiều vết bẹp móp kim loại, bong tróc sơn kim loại hướng từ trước về sau trên diện (53x12)cm. Màng lưới ba đờ sốc trước bật khỏi vị trí cố định (bút lục số 77 - 78).

Kết quả khám nghiệm xe đạp:

Đo tâm 2 trục bánh xe kích thước 99cm. Đo khoảng cách từ tâm đầu tay nắm trái cách đất kích thước 99cm. Khung càng bánh sau cong chùn kim loại hướng từ pH sang trái. Bề mặt bên pH có vết mài sát kim loại sạch bụi kích thước (10x1,5)cm. Xích truyền tải bật khỏi vị trí cố định.

Chân gác ba ga bên pH cong trùn hướng từ trước về sau bề mặt có nhiều vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng nghi sơn kích thước (8x0,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 51cm. Gác đờ bu bánh sau cong chùn kim loại hướng từ sau về trước từ trên xuống dưới, ép sát vào hai bánh xe. Tại vị trí mặt ngoài thấp nhất cách đất 55cm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu vàng nghi sơn kích thước (6x0,5)cm. Vành bánh sau cong vặn tự nhiên. Chân trống chính bên trái, tại vị trí thấp nhất cách đất 24cm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông kích thước (1,5x1)cm (bút lục số 86 - 87).

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị Đ; trưng cầu giám định cơ chế hình T dấu vết, vị trí va chạm, tốc độ của các của phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn và trưng cầu giám định đoạn vi deo thu tại hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 4430/22/GĐPY ngày 30/8/2022 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận:

1. Các kết quả chính qua giám định:

- Vùng đỉnh chẩm trái có đám trợt da bầm tím

- Sau tai trái bầm tím

- Trước bả vai trái có đám bầm tím

- Bả vai trái có vết bầm tím

- Sườn lưng pH có đám bầm tím

Đọc phim chụp CT sọ não ngày 17/8/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang: Dập não thùy trán thái dương pH; tụ máu dưới màng cứng cấp trên diện rộng bán cầu pH; chảy máu kHg dưới nhện lan tỏa hai bán cầu; phù não lan tỏa; vỡ xương thái dương trái; sưng nề tụ máu dưới da vùng thái dương-chẩm-đỉnh hai bên.

2. Kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị Đ do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, tụ máu, chảy máu nội sọ, dập não do tai nạn giao thông (bút lục số 28- 29).

Bản kết luận giám định số 1765/KL-KTHS ngày 03/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Dấu vết bẹp méo, mài sát sơn, kim loại tại biển số trước của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C - 260.23, có chiều hướng từ trước về sau (từ ảnh số 9 đến ảnh số 13 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu vàng - đen (dạng sơn) tại bên pH gác ba ga, bên pH thanh kim loại cố định chắn bùn bánh sau của xe đạp màu sơn xanh trong tư thế đứng, có chiều hướng từ sau ra trước, từ pH sang trái (từ ảnh số 15 đến số ảnh 19 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 4 (được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe đạp màu sơn xanh đổ nghiêng trái, bị chèn đè, đẩy rê trượt trên mặt đường tạo nên.

Vị trí va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C – 260.23 với xe đạp màu sơn xanh trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 4 (được thể hiện trong biển bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường), thuộc chiều chuyển động bên pH đường Võ Văn Kiệt theo hướng quốc lộ 17 đi tỉnh lộ 293.

Chiều hướng chuyển động: Tại thời điểm xảy ra tai nạn ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C – 260.23, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R – 158.54 chuyển động theo hướng quốc lộ 17 đi tỉnh lộ 293 va chạm với xe đạp màu sơn xanh ở phía trước, cùng chiều, đầu xe chếch sang bên pH theo hướng chuyển động của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C – 260. 23, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R - 158.54.

Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học (bút lục số 24 - 26).

Bản kết luận giám định số 2056/KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 file video có tên “5999633552437922063.mp3”; dung lượng: 4,83MB; thời lượng: 00 phút 56 giây được lưu trữ trong 01 đĩa DVD, màu xanh gửi giám định (bút lục số 32).

Cơ quan điều tra T hành kiểm tra nồng độ cồn của Vũ Bá T, kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của T là 0.000/mg/l (bút lục số 117).

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã cho bị can T thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả xác định T quan sát thấy xe đạp từ khoảng cách 28 m; khi xe ô tô do T điều khiển cách 17m thì xe đạp bắt đầu chuyển hướng sang đường (bút lục 46 - 47).

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty cổ phần tiếp vận Phúc T xe ô tô biển kiểm soát 15C – 260.23 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R – 158.54; trả lại cho ông Nguyễn Văn X chiếc xe đạp mầu xanh (bút lục số 178 – 179).

Về trách nhiệm dân sự: Vũ Bá T đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị Đ số tiền 150.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1951 (chồng bà Đ) là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị can (bút lục 130 - 131).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Vũ Bá T đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 200/CT-VKS ngày 23/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1, Tuyên bố bị cáo Vũ Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2, Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Bá T từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, T phố H Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

4, Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Vũ Bá T nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân T phố Bắc Giang, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

. Về sự vắng mặt của đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Về cấu T tội phạm: Khoảng 14 giờ 38 phút ngày 17/8/2022, Vũ Bá T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C – 260.23 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R – 158.54 đi trên đường Võ Văn Kiệt hướng từ đường quốc lộ 17 đi đường tỉnh lộ 293. Khi đi qua ngã tư giao nhau giữa đường Võ Văn Kiệt với đường đê thôn Ngò và đường đê thôn Văn Sơn thuộc địa phận xã Tân T, T phố Bắc Giang do không chấp hành báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ nên xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào xe đạp do bà Nguyễn Thị Đ điều khiển đi từ đường đê thôn Ngò ra đường Võ Văn Kiệt và chuyển hướng sang làn đường hướng từ đường quốc 17 đi đường tỉnh lộ 293. Hậu quả làm bà Đ bị chết.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi hồn hợp. Vũ Bá T điều khiển xe không làm chủ tốc độ khi đi qua khu vực ngã tư có biển báo hiệu nguy hiểm đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải. Bà Nguyễn Thị Đ đi xe đạp chuyển hướng nhưng không đảm bảo an toàn vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao đường bộ.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo T khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả xảy ra, đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sư cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe.

. Xét về nhân thân và các các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Vũ Bá T không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Vũ Bá T đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị Đ số tiền 150.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1951 (chồng bà Đ) là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho Công ty cổ phần tiếp vận Phúc T xe ô tô biển kiểm soát 15C – 260.23 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R – 158.54; trả lại cho ông Nguyễn Văn X chiếc xe đạp mầu xanh.

. Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Bá T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, T phố H Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Bá T pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ