vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; điều 135, 136 BLTTHS; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp,…

Tuyên bố: Bị cáo L Văn A phạm tội Tàng trữ hàng cấm Xử phạt: Bị cáo L Văm A 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn Am - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; điều 135, 136 BLTTHS; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp,…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ÂN THI
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------------
B¶n ¸n sè 02/2022/HS-ST
Ngµy 28 th¸ng 01 n¨m 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NA

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Đồng Dực

- Thư ký phiên toà : Bà Hoàng Thị Ái- Thư ký TAND huyện Ân Thi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên thA gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hữu - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở UBND xã Đa Lộc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. TAND huyện Ân Thi xét xử sơ thẩm công khai (thủ tục rút gọn) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2022/TLST-HS ngày 21/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 24/01/2022 đối với bị cáo:

L Văn A; sinh năm 1992; Giới tính: NA; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn PK, xã LH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt NA. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: L Văn Nhâm, sinh năm 1972, con bà: Đỗ Thị Len, sinh năm 1969. Vợ: Phạm Thị Như Ý, sinh năm 1996. Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/01/2022, đến ngày 09/01/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.

Có mặt tại phiên tòa

Người làm chứng: Anh Đặng Sỹ L, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Trú tại: Đào Xá, Đào Dương, Ân Thi, Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 06/01/2022, tại khu vực nghĩa trang thôn Đào Xá, xã Đào Dương, huyện Ân Thi; L Văn A, sinh năm 1992 ở Thôn PK, xã LH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi cầm 01 bao tải dứa màu đỏ nhạt, kích thước (95 x 57)cm, bên trong có 05 hộp giấy có cùng kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5) cm có tổng khối lượng là 7,2kg (Bảy phẩy hai kilôgA) đều là pháo nổ, loại: pháo hoa nổ thì bị Công an huyện Ân Thi và Công an xã Đào Dương phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; thu giữ toàn bộ số pháo nổ được niêm phong theo quy định và 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, biển số 89C – 208.55.

Quá trình điều tra, L Văn A khai thỏa thuận mua pháo nổ qua mạng xã hội từ ngày 03/01/2022 của một người không biết tên, địa chỉ để sử dụng, bị cáo không nhớ tài khoản mạng xã hội của người bán pháo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ- VKSAT ngày 21/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố L Văn A về tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: L Văn A phạm tội Tàng trữ hàng cấm

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: L Văn A từ 09 tháng đến 01 năm từ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo L Văn A cho Ủy ban nhân dân xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch Thu cho tiêu hủy 01 thùng carton niêm phong bên trong có 7kg pháo nổ; 01 bao tải dứa màu đỏ nhạt, kích thước (9,5 x 57) cm theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKSAT ngày 21/01/2022 và biên bản giao vật chứng ngày 24/01/2022.

Về án phí : Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, không có ý kiến bào chữa hoặc tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ân Thi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo L Văn A đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập được như biên bản hỏi cung bị can (BL số 84 đến 97), lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang (BL số 17,18), kết luận giám định (BL số 28, 29)... như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 06/01/2022, tại khu vực nghĩa trang thôn Đào Xá, Đào Dương, huyện Ân Thi bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép 7,2kg pháo nổ. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ hàng cấm được quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích mua để sử dụng. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn cña Nhµ n íc trong viÖc qu¶n lý mét sè lo¹i hµng cÊm, làm ảnh hưởng đến sự bình thường của hoạt động quản lý nhà nước về pháo và sử dụng pháo. Hơn nữa, thêi gian qua viÖc sö dông ph¸o næ ®· g©y tæn thÊt vÒ kinh tÕ vµ « nhiÔm m«i tr êng, g©y tæn h¹i c¶ vÒ søc khoÎ. Hµnh vi nµy cßn g©y mÊt trËt tù trÞ an ë ®Þa ph ¬ng. Do ®ã hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o cÇn ph¶i ® a ra truy tè vµ xÐt xö kịp thời nghiªm minh nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o trë thµnh c«ng d©n cã Ých cho x· héi, ®ång thêi cã t¸c dông r¨n ®e nh÷ng ng êi kh¸c ph¶i cã ý thøc chÊp hµnh ph¸p luËt.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ rõ ăn năn hối hận, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu vi phạm. Xét bản chất vụ án và tình tiết giảm nhẹ TNHS, số lượng pháo ít và đã được thu hồi, bản thân bị cáo và gia đình có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn do tình hình dịch Covid, hơn nữa bị cáo có con còn nhỏ, cháu lớn mới có 06 tuổi, còn cháu nhỏ 01 tuổi, bị cáo xin cải tạo tại địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng, tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải thực sự do vậy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh với UBND xã Lạc Hồng, UBND xã Lạc Hồng cung cấp: L Văn A là lao động tự do, sống chung cùng bố mẹ, không có tài sản gì. Vì vậy, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với 7kg pháo nổ là mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

01 bao tải dứa màu màu đỏ nhạt là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy

01 xe ô tô biển số 89C-208.55 thuộc sở hữu của Công ty TNHH Vệ sinh môi trường tỉnh Hưng Yên, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên ngày 20/01/2022, CQĐT đã trả lại chiếc ô tô này cho Công ty TNHH Vệ sinh môi trường tỉnh Hưng Yên nên không đặt ra giải quyết;

Đối với điện thoại di động bị cáo sử dụng để giao dịch mua pháo nổ,bị cáo đã đánh rơi vào sáng ngày 06/01/2022, bị cáo không biết đánh rơi ở đâu nên không căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; điều 135, 136 BLTTHS; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo L Văn A phạm tội Tàng trữ hàng cấm

2. Xử phạt: Bị cáo L Văm A 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo L Văn A cho Ủy ban nhân dân xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở Ln thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

4. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 7kg pháo hoàn lại sau giám định; 01 bao tải dứa màu đỏ nhạt có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng số số 02/QĐ-VKSAT ngày 21/01/2022 và biên bản giao vật chứng ngày 24/01/2022.

5. Về án phí: Bị cáo A phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ