- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ng V D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H. N TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HS-ST Ngày: 15/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H. N, TỈNH NGHỆ AN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà NgTh K Th
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đường;
2. Bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên toà: Bà Ng T H- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H. N, tỉnh Ng A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H. N, tỉnh Ng A tham gia phiên toà: Ông Ng L C - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2020 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H. N, tỉnh Ng A xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:
1, Ng Văn D, tên gọi khác: không; sinh ngày 22 tháng 02 năm 1977, tại: Huyện Đ Th, tỉnh H T; nơi cư trú: Thôn Đại Th, xã Đ Y, huyện Đ Th, tỉnh H T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh Phương; con bà: Ngô Th Ng; vợ: Ph Th H; con: Có 01; sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/10/2019 đến ngày 16/10/2019 bị tạm giam cho đến nay. Có mặt.
2, Ng V T, tên gọi khác: không; sinh ngày 26 tháng 8 năm 1978, tại: Xã H L, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 16, xã H L, huyện H Ng, tỉnh Ngh A; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ng V D; con bà: Nguyễn Thị Hòa; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/10/2019 đến ngày 16/10/2019 bị tạm giam cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/10/2019, do lên cơn nghiện ma túy nên Ng V D điều khiển xe môtô đi từ nhà đến khu vực cầu B Th 1, th ph V, tỉnh Ngh A để mua hê rô in về sử dụng và bán lại cho những người khác kiếm lời. Tại đây Dương gặp một người đàn ông làm nghề xe lai (D không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này). D nhờ người này mua 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) Hê rô in. Người đàn ông này lấy số điện thoại của D và nói D đứng chờ. Sau khoảng 30 phút người đàn ông đó điện thoại để chỉ cho Dchỗ cất dấu ma túy. D làm theo hướng dẫn của người này và đã lấy được gói ma túy được bọc bằng bao potylen trong suốt để ở cạnh hòn đá bên mép đường. Sau khi mua xong, D đi về nhà lấy một ít hê rô in vừa mua ra để sử dụng. Số ma túy còn lại D cất dấu ở trên bình Ga để ở gian nhà bếp của gia đình.
Khoảng 11 giờ ngày 10/10/2019, NgV T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX màu đen đỏ BKS 37B1-900.24 đi đến nhà gặp D để mua 500.000đ Hê rô in về sử dụng. Tại nhà D, Tđưa cho D 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). D cầm tiền rồi đi vào nhà bếp lấy gói hê rô in để ở trên bình ga ra rồi san một ít ma túy bỏ vào mảnh giấy vỏ bao thuốc lá hiệu SEABIRD (Cò Vàng) gói lại đưa cho cho T. Phần Hê rô in còn lại D gói lại vào bao gói cũ mang vào chỗ cũ cất giấu (trên bình ga tại nhà bếp). Mua xong Hê rô in, T đi về. Trên đường đi về T đã lấy gói Hê rô in ra sử dụng một ít bằng hình thức tiêm chích. Số còn lại Tường gói lại bằng bao cũ và bỏ vào bên phải quần bò T đang mặc và tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đến khu vực vòng xuyến cầu Yên X2, thuộc xóm 2, xã H X, huyện H Ng, Ngh A thì T bị Tổ Công tác Công an huyện H Ng, tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã thu giữ của T: 01 gói chất bột màu trắng (nghi là Heroin) được gói bằng mảnh giấy vỏ bao thuốc lá hiệu SEABIRD (Cò Vàng) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX màu đen đỏ BKS 37B1-900.24.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ng Văn D tại thôn Đ Th, xã Đức Yên, huyện Đ Th, tỉnh H T cơ quan CSĐT Công an huyện H.Ng đã thu giữ: Trên bình ga màu hồng ở khu vực nhà bếp của D 01 gói chất bột màu trắng (nghi là Heroin) được gói ngoài bằng bao potylen màu trong suốt và 500.000đ ở túi quần bên phải của D.
Tại Bản kết luận giám định số 1355/KL- PC09 (MT) ngày 15/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ngh A kết luận:
+ Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ng Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,24 gam.
+ Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ngu văn D gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 3.61 gam.
Tại phiên tòa các bị cáo Ng Văn Tvà Ng V D đã khai nhận hành vi mà các bị cáo thực hiện vào các ngày 09 và ngày 10/10/2019 giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Cáo trạng số: 01/CT- VKS – HS, ngày 11 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Ng Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Ng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ng Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Ng V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ng Văn D từ 39 đến 42 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo NgVăn T từ 15 đến 18 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu 02 phong bì công văn của Công an huyện Hưng Nguyên được niêm phong theo đúng quy định. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai tại phiên tòa của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 10/10/2019, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 09/10/2019 Ng Văn D đã có hành vi mua 01 gói ma túy của người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu bến thủy thành phố V với mục đích bán và sử dụng. Đến 11 giờ ngày 10/10/2019 D đã bán 500.000đ ma túy cho Ng Văn T. Khi đang trên đường về nhà thì Tường bị cơ quan CSĐT Công an huyện Hưng Nguyên bắt quả tang và thu giữ 01 gói chất bột màu trắng mà Tường đã mua của D (Lúc này là 12 giờ 30 phút ngày 10/10/2019 tại địa phận xóm 2, xã HX, huyện H Ng). Tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo D cơ quan điều tra đã thu giữ 01 gói chất bột màu trắng còn lại để trên bình ga gian bếp của nhà bị cáo D.
Căn cứ vào kết luận giám định số 1355/KL-PC09 (MT) ngày 15/10/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ngh A thì:
+ Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ng Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,24 gam.
+ Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ng Văn D gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 3.61 gam.
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi tàng trữ trái phép 0,24 gam ma túy (Heroine) nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn Tường đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi bán trái phép 0,24 gam ma túy (Heroine) cho Ng V T và hành vi tàng trữ trái phép 3,610 gam ma túy (Heroine) nhằm mục đích bán và sử dụng của bị cáo Ng Văn D đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H Ng, tỉnh Ngh A truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
Vụ án trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và chế độ quản lý đặc biệt đối với việc mua bán, tàng trữ chất ma túy. Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không chịu cai nghiện để tu dưỡng bản thân lại lao vào con đường phạm tội. Hành vi của Ng Văn D: Bán trái phép 01 lần ma túy (Heroine) cho Ng Văn T, tàng trữ trái phép 3,610 gam ma túy (Heroine) với mục đích bán và sử dụng và hành vi của Ng Văn T: Tàng trữ trái phép 0,24 gam ma túy (Heroine) là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này khi Hội đồng xét xử lượng hình phạt.
Xét thấy, mặc dù các bị cáo không có tình tiết tiết tăng nặng nào nhưng các bị cáo đều phạm tội nghiêm trọng nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục và cải tạo các bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với các bị cáo.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo. Cơ quan CSĐT Công an huyện H N đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được người này, nên không có căn cứ để xử lý.
. Về vật chứng: Vật chứng vụ án gồm:
- 02 (một) phong bì công văn Công an huyện H Ng, tỉnh Ng A đã được niêm phong.
- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX màu đen đỏ BKS 37B1-900.24.
Xét thấy:
Phong bì niêm phong dán kín bên trong là chất bột màu trắng, được giám định là ma túy (Heroine). Đây là vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Số tiền 500.000đ là tiền mà bị cáo D có được do bán ma túy. Nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Đối với xe mô tô là của ông Ng X H. Ông Hào cho bị cáo T mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng phương tiện để đi mua ma túy. Nên trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện H N đã trả lại cho ông H là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Ng V D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Ng V D 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 10/10/2019.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Ng V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Ng V T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 10/10/2019.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
01 phong bì công văn Công an huyện H Ng, Ngh A được niêm phong đúng quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ viết: "Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Ng V D (1977), trú tại: Thôn Đ Th, xã Đ Y, Đ Th, H T vào ngày 10/10/2019 tại: Thôn Đ T, xã Đ Y, Đ Th, H T. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại".
01 phong bì công văn Công an huyện Hưng Nguyên, Nghệ An được niêm phong đúng quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ viết: " Vật chứng thu giữ của Ng Văn T (1978), trú tại: Xóm A, H L, H Ng, Ngh A vào ngày 10/10/2019 tại xóm A, xã H X, h H Ng, Ngh A. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại".
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
(Số tiền này hiện đang có trong tài khoản của chi cục thi hành án dân sự huyện H Ng theo phiếu ủy nhiệm chi lập ngày 14/01/2020 từ tài khoản của Công an huyện H Ng sang tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện H N).
(Đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 15 giờ 20 phút ngày 13/01/2020 giữa Công an huyện H N và Chi cục thi hành án dân sự huyện H N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Ng V D và Ng V T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.
| Nơi nhận VKSND Công an huyện Chi cục THA huyện Bị cáo TAND tỉnh Lưu HS | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ng Th K Th |