vanban.org

Bản án 02/2032/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T đối với bị đơn anh Đàm Văn P về việc tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”.

Tuyên xử: Chị Nguyễn Quỳnh T được ly hôn với anh Đàm Văn P. Về nuôi con chung: Giao con chung của hai bên đương sự là cháu Đàm Mộc P, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2013 (cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường) cho nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Nguyễn Quỳnh T và Đàm Văn Phố"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T đối với bị đơn anh Đàm Văn P về việc tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGÂN SƠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đồng Khánh Hòa.

2. Ông Hoàng Ngọc Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Tấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên Đơn: Chị Nguyễn Quỳnh T, sinh năm 1989 – Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đàm Văn P, sinh năm 1987 – Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 26/9/2022 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh T và anh Đàm Văn P kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn B, huyện P (nay là huyện C), tỉnh Cao Bằng vào ngày 10/9/2013. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh từ tháng 10 năm 2018, nguyên nhân là do hai người không hợp nhau, trong cuộc sống hôn nhân không tìm được tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm dẫn đến giữa hai người đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị Nguyễn Quỳnh T thấy tình cảm vợ chồng giữa hai người không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đàm Văn P.

2. Về nuôi con chung sau khi ly hôn: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có một người con chung tên là Đàm Mộc P, sinh ngày 16/7/2013 (cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường). Ly hôn, chị Nguyễn Quỳnh T có nguyện vọng được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đàm Mộc P cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản chung và giải quyết nợ chung sau khi ly hôn: Chị Nguyễn Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của chị Nguyễn Quỳnh T, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do đương sự Đàm Văn P đi làm ăn xa, Tòa án đã tiến hành triệu tập nhiều lần tuy nhiên anh Đàm Văn P không về để Tòa án tiến hành các thủ tục lấy lời khai, thu thập chứng cứ theo quy định, vì vậy Tòa án đã tiến hành thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Tại văn bản số 83/CV-UBND ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Cao Bằng về việc trả lời xác minh thông tin công dân, thấy:

Chị Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 11/3/1989 và công dân Đàm Văn P, sinh ngày 19/11/1987 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B theo sổ đăng ký kết hôn số 26 ngày 10/9/2013. Hai người có một con chung tên là Đàm Mộc P, sinh ngày 16/7/2013, hiện nay con chung của hai người đang sinh sống cùng chị Nguyễn Quỳnh T. Quá trình chung sống sau khi kết hôn, hai vợ chồng anh chị T, P sinh sống tại thị trấn B vào những năm 2013 và 2014. Hiện tại chị T sinh sống tại Tổ dân phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Cao Bằng, còn anh P không sinh sống ở đó.

Tại văn bản số 292/UBND, ngày 20/10/2022 của UBND xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn tả lời Tòa án như sau: Về tình trạng hôn nhân anh Đàm Văn P và chị Nguyễn Quỳnh T không đăng ký kết hôn tại xã B. Ngày 17/5/2013, Ủy ban nhân dân xã X (nay là xã B) đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 10, ngày 17/5/2013, mục đích là để anh P đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Quỳnh T tại UBND thị trấn A, huyện P (nay là huyện C), tỉnh Cao Bằng. Công dân Đàm Văn P hiện tại có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, hiện nay anh P đang làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh. Anh Đàm Văn P và chị Nguyễn Quỳnh T có 01 người con trai sinh năm 2013, không đăng ký khai sinh tại xã B, hiện tại sống cùng ông bà ngoại. Quá trình chung sống, chị Nguyễn Quỳnh T không đăng ký nhập khẩu tại xã B mà chỉ sống mấy tháng đầu thời kỳ hôn nhân sau đó chuyển về sinh sống tại Cao Bằng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/12/2022, Đàm Văn P1, sinh năm 1956, địa chỉ thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là cha đẻ của anh Đàm Văn P xác định vợ chồng con trai ông là anh Đàm Văn P có xảy ra mẫu thuẫn, thời gian cụ thể như thế nào thì ông không nắm, vì hai vợ chồng con trai ông sau khi kết hôn không ở cùng ông. Hai vợ chồng anh P và chị T không có tài sản chung, ông cũng không chia cho anh P, chị T tài sản gì. Anh P thường xuyên đi làm ăn xa, không ở nhà, hiện nay đang đi lái xe thuê tại tỉnh Bắc Ninh, địa chỉ cụ thể và thu nhập như thế nào ông không nắm, anh P không thường xuyên về nhà, có việc gì thì thỉnh thoảng ông Phòng có gọi điện cho anh P. Những lần Tòa án gửi giấy triệu tập anh Phố gia đình ông đều nhận được, ông có thông báo cho anh P về việc Tòa án triệu tập lên làm việc, tuy nhiên anh Phố không về và đều nói với ông là tùy Tòa án giải quyết. Ông P1 cho rằng cuộc sống hôn nhân của con trai ông là khó có thể hàn gắn được, vì tình cảm của hai người đã không còn, hai vợ chồng đã bỏ nhau đã lâu và không còn chung sống với nhau từ lâu rồi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/02/2023, ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 và bà Lô Thị H, sinh năm 1964 có địa chỉ tại Tổ dân phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Cao Bằng là cha, mẹ đẻ của chị Nguyễn Quỳnh T xác định cuộc sống vợ chồng của chị T và anh P là có mâu thuẫn, do anh P không chịu tu chí làm ăn, không lo lắng cho con cái, gia đình, lười lao động sau khi cãi nhau thì anh P bỏ về ở hẳn dưới xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn từ năm 2014. Quá trình chung sống hai vợ chồng chị T, anh P không có tài sản chung, không có nợ chung.

Tòa án đã tiến hành ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 06/3/2023 theo quy định, tuy nhiên do bị đơn anh Đàm Văn P vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử đã phải hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 31/3/2023. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 31/3/2023, bị đơn anh Đàm Văn P tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thời hạn chuẩn bị xét xử. Về thời hạn chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu theo thẩm quyền, thủ tục gửi, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng đều đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các phần của phiên tòa sơ thẩm. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn anh Đàm Văn P thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ tố tụng.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Quỳnh T về việc xin ly hôn với anh Đàm Văn P.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Đàm Mộc P cho chị Nguyễn Quỳnh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Anh Đàm Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản chung và giải quyết nợ chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập đầy đủ lời khai của nguyên đơn, bị đơn, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải và tiến hành các biện pháp để thu thập chứng cứ theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm đáp ứng cho việc giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, hai bên đương sự không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng.

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn” được quy định tại Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Theo văn bản đề ngày 20/10/2020 của UBND xã B, huyện Ngân Sơn thì bị đơn anh Đàm Văn P hiện đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn theo trình tự sơ thẩm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Đàm Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

Về quan hệ tranh chấp:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Quỳnh T và anh Đàm Văn P kết hôn trên cơ sở yêu đương, tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/2013 tại UBND thị trấn B, huyện P (nay là huyện C), tỉnh Cao Bằng, vì vậy Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Quỳnh T và anh Đàm Văn P là hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân là do hai bên không tìm được tiếng nói chung về cuộc sống hôn nhân, sinh hoạt hàng ngày, bản chất anh P lười lao động, không chịu tu chí làm ăn để vun vén hạnh phúc gia đình, không quan tâm đến vợ con. Anh P và chị T đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, chị T khẳng định không còn tình cảm với anh Phố nữa, ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án anh Đàm Văn P tuy không ở nhà nhưng đã được gia đình thông báo về việc Tòa án đã thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Quỳnh T nhưng anh không quan tâm, cũng như không có động thái gì để hàn gắn hay níu kéo cuộc sống hôn nhân của anh và chị T, như vậy có thể thấy quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng chị T và anh P là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên cho hai bên đương sự ly hôn.

2.2. Về quan hệ nuôi con chung:

Vợ chồng chị T và anh P có một người con chung là cháu Đàm Mộc P, sinh ngày 16/7/2013 (cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường). Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, chị T có yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho mình được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn đã ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện C tiến hành thủ tục lấy lời khai của cháu Đàm Mộc P về nguyện vọng chung sống với bố hay mẹ sau khi ly hôn. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2023, cháu Đàm Mộc P trình bày là nếu ly hôn nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ, vì cháu đã ở với mẹ từ nhỏ, bố cháu rất ít khi về nhà, việc chăm sóc, học tập của cháu hoàn toàn do mẹ chăm lo, hiện nay cháu đang học lớp 4 tại trường tiểu học thị trấn B, huyện C và sống cùng nhà với mẹ là chị Nguyễn Quỳnh T. Xét điều kiện hoàn cảnh của hai bên đương sự Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn thấy rằng, cháu P từ nhỏ đã sống với chị Nguyễn Quỳnh T, việc sinh hoạt và học tập của cháu là đều do chị T đưa đón, trông nom, nuôi dưỡng và chăm sóc, còn anh Đàm Văn P thì làm ăn ở xa, không thường xuyên về nhà cũng không quan tâm đến con, do vậy nếu giao cho cháu Đàm Mộc P cho chị Nguyễn Quỳnh T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục sẽ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại của cả hai bên đương sự. Từ những căn cứ đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Đàm Mộc P cho chị Nguyễn Quỳnh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Điều đó là đúng với quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế khách quan và hoàn cảnh hiện tại của hai bên đương sự và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Đàm Mộc P.

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

2.4. Về chia tài sản chung và giải quyết nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T đối với bị đơn anh Đàm Văn P về việc tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”.

Tuyên xử: Chị Nguyễn Quỳnh T được ly hôn với anh Đàm Văn P.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung của hai bên đương sự là cháu Đàm Mộc P, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2013 (cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường) cho nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Đàm Mộc P đủ 18 tuổi. Anh Đàm Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2.1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Không xem xét do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.

3. Về chia tài sản chung và giải quyết nợ chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0000329, ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn. Xác nhận nguyên đơn chị Nguyễn Quỳnh T đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

5. Quyền kháng cáo:

5.1. Nguyên đơn Nguyễn Quỳnh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5.2. Bị đơn Đàm Văn P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ