- Tranh chấp gì? "XLHC.CN.NGUYENHPUOCNHAN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đề nghị của Công an phường A, thành phố Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2026/QĐ - TA | Đà Nẵng, ngày 01 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG
Với thành phần những người tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Hữu P
- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy
Những người tham gia phiên họp:
1. Đại diện Công an phường A, thành phố Đà Nẵng (Cơ quan đề nghị): Ông Lê Thành N, chức vụ: Cán bộ Công an phường A, thành phố Đà Nẵng (được phân công đại diện cơ quan đề nghị tham gia phiên họp).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Kiểm sát viên.
3. Người bị đề nghị: Nguyễn Phước N1, vắng mặt.
Ngày 01 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Văn bản đề nghị số 835/ĐN - CNBB - CAP ngày 24/4/2026 của Công an phường A, thành phố Đà Nẵng và Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 1001/2026//QĐ - TA, ngày 19/5/2026 của TAND Khu vực 10 - Đà Nẵng, đối với người bị đề nghị: Nguyễn Phước N1, sinh ngày 03/12/1988 tại Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng); căn cước công dân số: 049088004116; nơi cư trú: Khối phố Bằng A, phường A, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; học vấn: 12/12; con ông Nguyễn T, sinh năm 1958 và bà Tăng Thị T1, sinh năm 1958. Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/4/2026, Nguyễn Phước N1 bị Công an phường A, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: ngày 27/11/2024, N1 bị Công an phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
NHẬN THẤY
Nguyễn Phước N1 là đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 41/QĐ - UBND - CA ngày 02/4/2026 của Chủ tịch UBND phường A, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, trong thời hạn bị quản lý, vào ngày 11/4/2026, Nguyễn Phước N1 lại có hành vi tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường A, thành phố Đà Nẵng lập biên bản vi phạm. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 13/4/2026 của Trung tâm y tế K thì Nguyễn Phước N1 nghiện ma túy. Quá trình xử lý vụ việc, N1 đã nhận được thông báo về kết quả xác định tình trạng nghiện của bản thân, được tư vấn lựa chọn đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng Nguyễn Phước N1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định.
Ngày 24/4/2026, Công an phường A, thành phố Đà Nẵng có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước N1; đồng thời lập thủ tục giao người bị đề nghị cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Tại phiên họp, đại diện Công an phường A, thành phố Đà Nẵng trình bày quan điểm: Nguyễn Phước N1 là thanh niên đã trên 18 tuổi nhưng bản thân không tu chí làm ăn; đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 41/QĐ - UBND - CA ngày 02/4/2026 của Chủ tịch UBND phường A, thành phố Đà Nẵng, nhưng N1 lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy số 01 thành phố Đà Nẵng (địa chỉ: Thôn L, phường H, thành phố Đà Nẵng) đối với Nguyễn Phước N1, thời hạn đề nghị áp dụng là 24 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người khác tham gia phiên họp thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước N1. N1 đã được tiếp nhận thông tin về tình trạng nghiện ma túy của mình, biết mình nghiện ma túy và dù đã được tư vấn, hướng dẫn nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định. Từ đó, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 95, Điều 96, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, chấp nhận đề nghị của Công an phường A, thành phố Đà Nẵng, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước N1, thời hạn đề nghị áp dụng từ 15 tháng đến 18 tháng.
Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp nên không có ý kiến gì; các bên không có tranh luận, đối đáp.
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Phước N1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Công an phường A, thành phố Đà Nẵng lập và chuyển cho Tòa án là đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đảm bảo theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm của người bị đề nghị: Nguyễn Phước N1 là người đủ 18 tuổi; có nơi cư trú ổn định tại Khối phố Bằng A, phường A, thành phố Đà Nẵng. N1 là người đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo 41/QĐ - UBND - CA ngày 02/4/2026 của Chủ tịch UBND phường A, thành phố Đà Nẵng nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý; được xác định có nghiện ma túy; quá trình xử lý vụ việc vi phạm, Nguyễn Phước N1 đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định. Từ đó, cần chấp nhận đề nghị của Công an phường A, thành phố Đà Nẵng và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên họp; căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước N1, với thời hạn phù hợp, đảm bảo cho N1 có điều kiện để chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính; các đặc điểm về nhân thân và lý lịch của người bị đề nghị thì thấy, Nguyễn Phước N1 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có nhân thân xấu nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, phấn đấu trở thành người tốt mà lại tiếp tục có hành vi sử dụng ma túy, thể hiện N1 có ý thức chấp hành pháp luật không tốt và tiềm ẩn nguy cơ tiếp tục vi phạm pháp luật.
Về các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: Quá trình lập hồ sơ, Nguyễn Phước N1 hợp tác; thành khẩn, hối lỗi về hành vi vi phạm hành chính của mình nên cần xem xét giảm nhẹ một phần thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước N1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận đề nghị của Công an phường A, thành phố Đà Nẵng. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 thành phố Đà Nẵng (địa chỉ: Thôn L, phường H, thành phố Đà Nẵng), đối với người bị đề nghị: Nguyễn Phước N1, sinh ngày 03/12/1988 tại Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng); căn cước công dân số: 049088004116; nơi cư trú: Khối phố Bằng A, phường A, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; học vấn: 12/12; con ông Nguyễn T, sinh năm 1958 và bà Tăng Thị T1, sinh năm 1958.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 05 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định, theo quy định tại Điều 31, Điều 32 và Điều 33 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an phường A, thành phố Đà Nẵng; Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND KV 10 - Đà Nẵng; - Công an phường An Thắng, Tp. Đà Nẵng; - UBND phường An Thắng, Tp. Đà Nẵng; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 01, Tp. Đà Nẵng; - Người bị đề nghị. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Hữu Phúc |