- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Lò Văn N
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 02/2026/HSST Ngày: 06/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Đắc Huy
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 299/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025; Thông báo hoãn phiên tòa số 299 ngày 23/12/2025 đối với bị cáo:
1. LÒ VĂN N, sinh năm 2001; CCCD số: 015201006478; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản M, phường C, tỉnh Lào Cai; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Lò Văn P, họ tên mẹ: Lò Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1-Công an thành phố H
Có mặt tại phiên tòa.
2. QUÀNG TRUNG T, sinh năm 2001; CCCD số: 011201005212; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản G, xã T, tỉnh Điện Biên; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Quàng Văn T, họ tên mẹ: Lường Thị C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/9/2025, tạm giam từ ngày 19/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1 Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn N:
Ông Nguyễn Văn T1 giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H nhánh S
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 22 tháng 7 năm 2025, Công an xã Đ, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại khu K, xã Đ, H với Lò Văn N1 hiện tại thẻ ra vào Khu công trường Nđeo trước ngực có 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Lò Văn N2 trụ sở điều tra làm rõ.
Cơ quan điều tra còn thu giữ của Lò Văn N01 thẻ nhựa hình chữ nhật, kích thước 9x11cm, bên trong có thẻ ra vào dự án KĐT VINHOME, tên Hoàng V N1mã số MST8 và 01 Điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, lắp sim 0375849916, Số IMEI 1: 35316766793398; IMEI 2: 353167667608400.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn NTại Bản kết luận giám định số 4322/KL-KTHS ngày 31/7/2025 của Phòng KCông an thành phố Hkết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,105 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lò Văn N3 nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/07/2025 Nđi đến khu nhà vệ sinh trong Ký túc xá số 1 công trường V, xã Đ, TP H mua ma tuý. Nmua 200.000 đồng ma tuý Heroin của một nam thanh niên đứng trong nhà vệ sinh số 5 Khu KNgười này yêu cầu Nchuyển tiền vào tài khoản ngân hàng qua mã QR đưa qua ô cửa nhà vệ sinh số 5. Lò Văn N4 dụng tài khoản Ngân hàng TMCP Q2số 0375849916 mang tên Lò Văn N5 khoản 200.000 đồng qua mã QR người này đưa. Sau khi mua ma túy, N6 giấu vào bên trong vỏ bọc thẻ đeo ra vào công trường đeo trước ngực. Đến cửa ra vào thì bị lực lượng công an phát hiện. Ngoài ra, N3 nhận trưa ngày 20/7/2025 cũng mua 200.000 đồng ma túy Heroin tại khu vực nhà vệ sinh của khu ký túc xá công trường V, xã Đ, TP H phương thức tương tự.
Quá trình điều tra xác định:
Lò Văn N4 dụng tài khoản Ngân hàng TMCP Q2chuyển 200.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng H2mở tại Ngân hàng TMCP C T2
Xác minh chủ đăng ký tài khoản ngân hàng số 0877452759 mở tại Ngân hàng TMCP C( sinh ngày 16/4/2001; Nơi thường trú: Bản G, Q, tỉnh Điện BiênNgày 11/9/2025, Quàng T2 T2đã đến trụ sở Công an xã Đ đầu thú.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Quàng T2 T201 Điện thoại Samsung Galaxy A06, màu xanh, 02 sim điện thoại 0877452759 và 0858450764 Số IMEI 1: 351398410192820; IMEI 2: 35549684192828
Tại cơ quan điều tra Quàng Trung T2khai nhận: Vào ngày 20/7/2025 và ngày 22/7/2025, T2đi đến khu vực nhà vệ sinh ký túc xá công trường V1, TP H của một nam giới tên H1700.000 đồng ma túy Heroin mỗi lần. Sau khi mua ma túy, T2sử dụng một phần và phần còn lại T2bán cho Lò Văn N7 phương thức phù hợp với lời khai của Lò Văn N8 thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 20/7/2025, T2bán cho N200.000 đồng ma túy Heroin tại khu vực nhà vệ sinh ký túc xá công trường Vinhomes Cổ Lxã Đ, TP Hà Nội
Lần thứ hai: Vào ngày 22/7/2025, T2bán cho N200.000 đồng ma túy Heroin tại khu vực nhà vệ sinh ký túc xá công trường Vinhomes Cổ Lxã Đ, TP Hà Nội
Cả hai lần bán ma tuý cho NT2đều yêu cầu Nthanh toán tiền qua mã QR đến tài khoản 0877452759 mang tên Quàng Trung T2tại Ngân hàng TMCP C
Kết quả xét nghiệm ma túy tìm chất ma túy đối với Lò Văn N và Quàng Trung T2cho kết quả dương tính với ma túy loại Mophin. Xác minh tại địa phương, Lò Văn Nvà Q T2không phải là đối tượng thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự.
Đối với nam thanh niên tên “H1” là người bán ma tuý cho Quàng T2 T2. Quá trình điều tra Quàng Trung T2 khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, chỉ mua bán ma tuý qua ô cửa nhà vệ sinh và đều trả tiền mua ma túy bằng tiền mặt. Ngoài lời khai của T2 thì không còn tài liệu khác nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với anh Hoàng Văn N9 cho N10 thẻ ra vào công trường không biết việc N11 ma tuý và cất giấu trong thẻ nên cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ma túy, có ký tên T3; 01 thẻ nhựa hình chữ nhật, kích thước 9x11cm, bên trong có thẻ ra vào dự án KĐT VINHOME, tên Hoàng V N1mã số MST8 (anh N1đã được cấp thẻ mới, không đề nghị được nhận lại); 01 Điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, sim điện thoại (nhưng đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 35316766793398; IMEI 2: 353167667608400 thu giữ của Lò Văn N 01 Điện thoại Samsung Galaxy A06, màu xanh, 02 sim điện thoại (nhưng đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 351398410192820; IMEI 2: 35549684192828 thu giữ của Q Tlà vật chứng trong vụ án chuyển Tòa án giải quyết theo thẩm quyền.
[4]. Tại bản cáo trạng số 135/CT - VKS ngày 09/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội đã truy tố Lò Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Quàng Trung T2về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Quàng Trung T2phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Lò Văn N
- Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Quang Trung T
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Xử phạt Lò Văn N12 36 đến 42 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2025.
+ Xử phạt Quàng Trung T2từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy, có ký tên T3; 01 thẻ nhựa hình chữ nhật, kích thước 9x11cm, bên trong có thẻ ra vào dự án KĐT VINHOME, tên Hoàng V N1mã số MST8.
Tịch thu sung công:
01 Điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, sim điện thoại (nhưng đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 35316766793398; IMEI 2: 353167667608400 thu giữ của Lò Văn N
01 Điện thoại Samsung Galaxy A06, màu xanh, 02 sim điện thoại (nhưng đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 351398410192820; IMEI 2: 35549684192828 thu giữ của Quàng T
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn N13 L1ông Nguyễn Văn T1trình bày:
Nhất trí về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội đã truy tố đối với Lò Văn N14 cáo Lò Văn Nghĩa là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức rất nhiều hạn chế, lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ gần ở mức khởi điểm của khung hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt và miễn án phí hình sự cho bị cáo.
[5]. Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại khu K, xã Đ, Hà Nội, Lò Văn N15 hành vi tàng trữ trái phép 0,105 gam ma túy loại Heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Đ bắt giữ.
Vào các ngày 20/7/2025 và ngày 22/7/2025, tại Khu K, xã Đ, thành phố H có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroin cho Lò Văn N, với số tiền của mỗi lần bán là 200.000 đồng, tổng cộng là 400.000 đồng.
Hành vi của Lò Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Hành vi của Quàng Trung T2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
Điều 249 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhắm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy mà thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, MAMDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Điều 251 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên:
…
5. Người phạm tội có thể bị phạt tiềntừ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lò Văn N, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Quàng T2 T2 là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Các bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật.
Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Quàng T2 T2đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Lò Văn Nghĩa là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức có nhiều hạn chế nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự nên được coi là có nhân thân tốt.
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với nam thanh niên tên “H1” là người bán ma tuý cho Quàng T2 T2. Quá trình điều tra Quàng Trung T2 khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, chỉ mua bán ma tuý qua ô cửa nhà vệ sinh và đều trả tiền mua ma túy bằng tiền mặt. Ngoài lời khai của T2 thì không còn tài liệu khác nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với anh Hoàng Văn N9 cho N10 thẻ ra vào công trường không biết việc N11 ma tuý và cất giấu trong thẻ nên cơ quan điều tra không xử lý.
. Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ma túy, có ký tên T3; 01 thẻ nhựa hình chữ nhật, kích thước 9x11cm, bên trong có thẻ ra vào dự án KĐT VINHOME, tên Hoàng V N1mã số MST8 (anh N1đã được cấp thẻ mới, không đề nghị được nhận lại) cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, sim điện thoại (đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 35316766793398; IMEI 2: 353167667608400 thu giữ của Lò Văn N 01 Điện thoại Samsung Galaxy A06, màu xanh, 02 sim điện thoại (đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 351398410192820; IMEI 2: 35549684192828 thu giữ của Quàng Tcác bị cáo đều sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung công.
Đối với số tiền 400.000 đồng Lò Văn N16 chuyển khoản cho bị cáo Quàng T2 T2để mua ma túy cần buộc Quàng Trung T2truy nộp.
Đối với quan điểm của người bào chữa: Phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Án phí: Bị cáo Quàng Trung T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Lò Văn Nghĩa là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Lò Văn N15 quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Lò Văn N
- Điểm b Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Quàng Trung T
- Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015
- Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt:
1. Lò Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2025.
2. Quàng Trung T2 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2025.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy, có ký tên T3; 01 thẻ nhựa hình chữ nhật, kích thước 9x11cm, bên trong có thẻ ra vào dự án KĐT VINHOME, tên Hoàng V N1mã số MST8.
Tịch thu sung công:
01 Điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, sim điện thoại (nhưng đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 35316766793398; IMEI 2: 353167667608400 thu giữ của Lò Văn N
01 Điện thoại Samsung Galaxy A06, màu xanh, 02 sim điện thoại (nhưng đã bị khoá 2 chiều nên không sử dụng được) Số IMEI 1: 351398410192820; IMEI 2: 35549684192828 thu giữ của Quàng T
(theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/12/2025 giữa Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố H).
Buộc bị cáo Quàng T2 T2truy nộp số tiền 400.000 đồng là tiền Lò Văn N16 chuyển khoản cho Q1Trung Tới để mua ma túy.
Bị cáo Quàng T2 T2phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lò Văn N17 miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Lò Văn N15 quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo;Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà - Người tham gia tố tụng; - VKSND Khu vực 7 - Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - THADS thành phố Hà Nội; - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Trần Thị Bích Nguyệt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bích Nguyệt |