- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã A S phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mã A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KV8 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HS-ST Ngày 07 - 01- 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sầm Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Duy Bình và ông Vũ Thanh Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Toà án nhân dân KV8 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 8
- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Mã A S (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1991 tại tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mã A M và bà Sùng Thị D; Vợ là chị Tráng Thị D1 và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 67/2021/QĐ-TA ngày 01/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai thời hạn 12 tháng. Ngày 30/3/2022 bị cáo đã chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/10/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: 1
Mã A S là đối tượng nghiện ma túy, ngày 18/01/2023 Si đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, ngày bắt đầu điều trị 19/01/2023 đến ngày 28/7/2025 thì tự ý chấm dứt việc điều trị. Ngày 11/9/2025, Cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế - Bệnh viện Đ thông báo chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Mã A S với lý do bỏ thuốc nhiều ngày không lý do.
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/10/2025, Mã A S đi chơi một mình ở khu vực xã K, tỉnh Lào Cai thì gặp một người thanh niên giới thiệu tên là T1 giống người nghiện ma tuý nên đã hỏi mua ma tuý và đưa cho T1 200.000 đồng. T1 cầm tiền rời đi khoảng 20 phút thì quay lại đưa cho S 01 gói ma tuý được gói bằng giấy bạc bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục là ma tuý Heroine. Sau khi mua được ma tuý, S đi vào bụi cây ven đường và sử dụng ma tuý vừa mua được bằng hình thức chích ma tuý vào cơ thể.
Đến 09 giờ 30 phút ngày 14/10/2025 thì Công an xã C mời Mã A S đến trụ sở Công an xã để làm rõ lý do Si tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone. Quá trình làm việc, S đã khai nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép chất ma túy vào ngày 13/10/2025. Công an xã C đã tiến hành lập biên bản và thu mẫu nước tiểu của Mã A S để giám định
Tại Kết luận giám định số 2653/KL-KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận:
Trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Mã A S gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine.
* Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu. Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-KV8 ngày 19/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai truy tố Mã A S về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mã A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mã A S từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật. 2
Người bào chữa trình bày lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là 02 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật là người được điều trị Mathadone tại cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế từ ngày 19/01/2023 đến ngày 28/7/2025 thì tự ý chấm dứt. Ngày 11/9/2025, Bệnh viện Đ1 ban hành thông báo chấm dứt điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với bị cáo. Ngày 13/10/2025 bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy và chính sách quản lý đối với người nghiện ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 lần. Do vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. 3
Đối với người đàn ông tên T1 đã bán ma tuý cho S vào ngày 13/10/2025, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, cá nhân thuộc hộ cận nghèo, không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai là phù hợp pháp luật cần được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Mã A S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Mã A S 02 (H) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 15/10/2025.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mã A S.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Khu vực 8 – Lào Cai;
- Công an tỉnh Lào Cai;
- Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai;
(Đã ký)
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo; Người bào chữa;
- Thi hành án (2);
Sầm Thị Tươi
- Lưu HS,TA,THS,VP. 4 CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sầm Thị Tươi 5 Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Khu vực 8 – Lào Cai;
- Công an tỉnh Lào Cai;
- Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo; Người bào chữa;
- Thi hành án (2);
Sầm Thị Tươi
- Lưu HS,TA,THS,VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sầm Thị Tươi 6 7 Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện Văn Bàn; 8
- Công an tỉnh Lào Cai;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Uỷ ban nhân dân xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Sầm Thị Tươi
- Thi hành án (2);
- LưuHS,TA,THS,VP. 9 10 11 12 13 CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hoàng Liên Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Văn Bàn;
- Công an huyện Văn Bàn;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
- Thi hành án (2);
Nguyễn Thị Hoàng Liên
- LưuHS,TA,THS,VP. 14 15
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND Văn Bàn; - Công an huyện Văn Bàn; - Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; Bị cáo; - Người bào chữa; - Thi hành án (2); - LưuHS,TA,THS,VP. 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 146 147 148 149 150 151 152 153 154 155 156 157 158 159 160 161 162 | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |