- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HS-ST. Ngày 05/01/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Huệ.
2. Ông Bùi Văn Trung.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Hằng Nga - Thư ký Toà án nhân
dân Khu vực 8 - Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026; Tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 17/12/2025; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 22/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức X, sinh ngày 31/8/1993, tại tỉnh Hưng Yên (tỉnh Thái
Bình cũ). Nơi cư trú: thôn Điềm, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Trần Đức Q, sinh năm 1968, con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 04/HSST ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên) xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/3/2020; thi hành xong án phí ngày 05/7/2019. (đã được xóa án tích). Bị tạm giữ từ ngày 11/9/2025 đến ngày 17/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Hưng Yên. Trích xuất có mặt.
+ Những người chứng kiến:
- Ông Vũ Văn H, sinh năm 1960. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn Long Nãi, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Phạm Văn H, sinh năm 2005. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn Phụng Công, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn Long Nãi, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên phát hiện Trần Đức X đang đi bộ một mình, có biểu hiện liên quan đến ma túy, nên đã yêu cầu X đứng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến, làm chứng của ông Vũ Văn H và anh Phạm Văn H cùng đại diện chính quyền địa phương, X đã tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay phải cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có viền dập một đầu, trên viền dập có đường kẻ màu đỏ, chứa các hạt tinh thể trong suốt và khai nhận đó là gói ma túy đá của X cất giấu để sử dụng cho bản thân (qua giám định là Methamphetamine, có khối lượng 0,3328 gam). Tổ công tác đã đưa X cùng vật chứng và mời người làm chứng, chứng kiến về trụ sở Công an xã Lê Quý Đôn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đức X tại thôn Điềm, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên, không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 1217/KL - KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3328 gam.
Bản Cáo trạng số 45/CT-VKS, ngày 15/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực 8 – Hưng Yên đã truy tố Trần Đức X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Trần Đức X khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, nên
khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11 tháng 9 năm 2025, X đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực chân cầu Tịnh Xuyên, thuộc địa phận xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên thì xuống xe, mua của 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi, không biết rõ tên, địa chỉ, 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng, rồi cầm trong lòng bàn tay phải, đi nhờ xe của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ về xã Lê Quý Đôn thì xuống xe. Khi đang đi bộ tìm chỗ vắng để sử dụng ma túy thì bị Công an xã Lê Quý Đôn phát hiện, bắt quả tang tàng trữ ma túy.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên vẫn giữ
nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Đức X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/9/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định.
Bị cáo Trần Đức X đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 -
Hưng Yên đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai
của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Vũ Văn H, ông Phạm Văn H và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên lập hồi 20 giờ và 21 giờ 20 phút, cùng ngày 11/9/2025 tại trụ sở Công an xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên; Bản kết luận giám định số 1217/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11 tháng 9
năm 2025, tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn Long Nãi, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Trần Đức X đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,3328 gam Methamphetamine, với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
... c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine,
Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000
đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe và làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước cũng đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, ... trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội là liệt sĩ do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ bị cáo khai mua của một nam thanh niên
khoảng 30 tuổi không biết rõ tên, địa chỉ tại khu vực chân cầu Tịnh Xuyên, thuộc địa phận xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với hai người đàn ông đã cho bị cáo đi nhờ xe trong quá trình bị cáo
đi mua ma túy và quá trình bị cáo đi tìm nơi sử dụng ma túy. Bị cáo khai không biết tên, địa chỉ của họ và không nói cho họ biết mục đích đi mua ma túy nên không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy cơ quan điều tra quản lý của
bị cáo sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 1217/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất
ma tuý".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản
2, Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Trần Đức X 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/9/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm
2025, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Trần Đức X được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1217/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên.
(Vật chứng trên hiện đang do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hưng
Yên quản lý, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/12/2025).
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Đức X phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Trần Đức X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/01/2026. Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND Khu vực 8 - Hưng Yên; - CQCSĐT công an tỉnh Hưng Yên; - THADS tỉnh Hưng Yên; - Phòng PV06, PC10, PC11B công an tỉnh Hưng Yên; - Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Quốc Khánh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Quốc Khánh |