vanban.org

Bản án 02/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phạm Anh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST
Ngày 22/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – LÂM ĐỒNG

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hữu Tỷ

2. Bà Nguyễn Thị Văn

Thư ký phiên toà: Ông Lương Quốc Chương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 22/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 29/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2026/QĐXXST-HS ngày 09/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng, đối với:

Bị cáo Phạm Anh T (Có mặt); tên gọi khác: không; sinh ngày 12/12/1987, tại tỉnh Nh (nay là tỉnh N); giới tính: nam; nơi cư trú: Bon N, xã Q, tỉnh L; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thợ mộc; con ông Phạm Thanh M (sinh năm 1964), cư trú tại Bon N, xã Q, tỉnh L và con bà Vũ Thị T (đã chết); Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 người con; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh Lâm Đồng.

- Người làm chứng: Ông Võ T (Vắng mặt); địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 14/9/2025, Phạm Anh T đi đến khu vực cầu Đ, thuộc tổ dân phố A, phường N, tỉnh L thì gặp một người đàn ông tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Tại đây, H rủ T cùng sử dụng ma túy đá, T đồng ý và đã hít khoảng 03-04 hơi bằng bộ dụng cụ sử dụng may túy của H, sau đó T đi về nhà tại bon N, xã Q, tỉnh L. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/9/2025, T nhận được cuộc gọi qua ứng dụng Messenger Facebook từ tài khoản “H” của H đến tài khoản “Phạm T”, rủ T góp tiền mua ma túy đá để cùng sử dụng. T đồng ý và thống nhất góp 800.000 đồng, H góp 200.000 đồng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, T từ nhà tại bon N, xã Q, tỉnh L đi đến khu vực đường T, phường B, tỉnh L và đưa cho H 800.000 đồng. H hẹn T đến thuê phòng tại nhà nghỉ T (thuộc tổ dân phố A, phường B) để chờ H đi mua ma túy mang về sử dụng. H một mình điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát và đặc điểm phương tiện) đi mua ma túy, còn T đi dự đám cưới; đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T thuê phòng số 01 của nhà nghỉ T. Quá trình ở tại đây, T nhiều lần liên lạc với H nhưng không được. Đến khoảng 09 giờ ngày 16/9/2025, H gọi điện thoại hẹn T ra khu vực bến xe buýt gần nhà nghỉ T. T trả phòng rồi đi bộ đến địa điểm hẹn. Tại đây, H nói đã sử dụng hết 01 tép ma túy đá, đồng thời đưa cho T 03 tép ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. T rủ H về nhà của T tại xã Q để cùng sử dụng ma túy nhưng H không đồng ý. T cất giấu số ma túy trong túi quần bên trái và cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong túi quần bên phải đang mặc trên người; sau đó thuê xe taxi do ông Võ Tg (sinh năm 1973, trú tại thôn A, xã N, tỉnh L) chở về nhà tại bon N, xã Q. Vào lúc 10 giờ cùng ngày, khi đến khu vực gần nhà, T vừa xuống xe taxi thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy và tang vật liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 721/KL-KTHS ngày 23/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong đoạn ống hút nhựa màu cam, hàn kín hai đầu có khối lượng 0,1546 gam; Mẫu tinh thể (M2) đựng trong đoạn ống hút nhựa màu cam, hàn kín hai đầu có khối lượng 0,1916 gam; Mẫu tinh thể (M3) đựng trong đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu có khối lượng 0,1845 gam; tất cả đều là ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu ma túy thu giữ của Phạm Anh T là 0,5307 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 714/KL-KTHS ngày 25/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận: tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Phạm Anh T.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS-KV6 ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì thêm hay tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng; khi được nói lời sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với cộng đồng, xã hội.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Anh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2025.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M15 5G, màu xanh của Phạm Anh T là phương tiện sử dụng để liên lạc mua ma túy.

+ Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, tổng khối lượng 0,4724 gam; 01 túi nilon zipper, miệng sọc đỏ, kích thước (7,4x4,2)cm; 02 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín hai đầu, kích thước lần lượt (3,3 x 01)cm và (3,7 x 01)cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu kích thước (3,3 x 01)cm; 01 lọ thủy tinh cao 09cm, đường kính đáy 4,3cm, có nắp màu đen; trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài 20cm, đường kính 0,6cm; lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống thủy tinh dài 11cm, đường kính 0,6cm, một đầu được uốn cong hình quả cầu đường kính 1,8cm, bên trong còn bám khói muội màu đen, đầu còn lại gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài 03cm.

- Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Đối với những người khác có liên quan đến vụ án:

+ Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 14/9/2025 của Phạm Anh T: Qua xác minh, không có căn cứ xác định hành vi sử dụng ma túy của T thuộc các trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2025. Do đó, hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T bằng hình thức phạt tiền.

+ Đối với người đàn ông tên H là người đưa ma túy và dụng cụ cho Phạm Anh T sử dụng vào ngày 14/9/2025; ngày 15/9/2025 cùng góp tiền rồi đi mua và đưa ma túy cho Phạm Anh T; quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng tiếp tục xác minh, làm rõ; khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

+ Đối với nội dung Phạm Anh T khai H đã sử dụng 01 tép ma túy: ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh T có hành vi rủ rê, lôi kéo, chuẩn bị địa điểm, phương tiện hoặc tạo điều kiện để H sử dụng trái phép chất ma túy; do đó không có căn cứ xử lý T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với H.

+ Quá trình điều tra xác định: Ông Võ T là người điều khiển xe taxi chở Phạm Anh T; do không biết việc T cất giấu ma túy nên không xem xét xử lý đối với ông Trung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, người liên quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử nhận định: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/9/2025, Phạm Anh T đã góp 800.000 đồng đưa cho người đàn ông tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 16/9/2025, H đưa cho T 03 tép ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,5307 gam và 01 bộ dụng cụ sử dụng; T cất giấu ma túy trên người nhằm mục đích sử dụng, rồi đi taxi từ tổ dân phố A, phường B đến khu vực gần nhà tại bon N, xã Q, tỉnh L; đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249 của Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

…

c) … Methamphetamine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

Xét tính chất vụ án và hành vi của bị cáo: Hành vi mà bị cáo Phạm Anh T đã thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo là công dân có đầy đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; bị cáo là thanh niên có sức khỏe, có khả năng lao động, lẽ ra bị cáo phải biết tu dưỡng, rèn luyện nhưng lại xuất phát từ mục đích ích kỷ của bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng, đây là một vấn nạn của xã hội chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, chính tác hại đó mà pháp luật nghiêm cấm và nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân của bị cáo: Tiền án, tiền sự không, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian dài thì mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với những nội dung khác có liên quan đến vụ án:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 14/9/2025 của Phạm Anh T: Qua xác minh, không có căn cứ xác định hành vi sử dụng ma túy của T thuộc các trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a của Bộ luật hình sự 2015, được bổ sung năm 2025. Do đó, hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

- Đối với người đàn ông tên H, là người đưa ma túy và dụng cụ cho Phạm Anh T sử dụng vào ngày 14/9/2025; ngày 15/9/2025 cùng góp tiền rồi đi mua và đưa ma túy cho Phạm Anh T; quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng tiếp tục xác minh, làm rõ; khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

- Đối với nội dung Phạm Anh T khai H đã sử dụng 01 tép ma túy, ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh T có hành vi rủ rê, lôi kéo, chuẩn bị địa điểm, phương tiện hoặc tạo điều kiện để H sử dụng trái phép chất ma túy; do đó không có căn cứ xử lý T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với H là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định: Ông Võ T là người điều khiển xe taxi chở Phạm Anh T; do không biết việc T cất giấu ma túy nên không xem xét xử lý đối với ông Trung là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ của Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M15 5G, màu xanh, của Phạm Anh T, là phương tiện sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, tổng khối lượng 0,4724 gam; 01 túi nilon zipper, miệng sọc đỏ, kích thước (7,4x4,2)cm; 02 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín hai đầu, kích thước lần lượt (3,3 x 01)cm và (3,7 x 01)cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu kích thước (3,3 x 01)cm; 01 lọ thủy tinh cao 09cm, đường kính đáy 4,3cm, có nắp màu đen; trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài 20cm, đường kính 0,6cm; lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống thủy tinh dài 11cm, đường kính 0,6cm, một đầu được uốn cong hình quả cầu đường kính 1,8cm, bên trong còn bám khói muội màu đen, đầu còn lại gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài 03cm cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo bị kết án nên bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Phạm Anh T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2025.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M15 5G, màu xanh, của Phạm Anh T là phương tiện sử dụng để liên lạc mua ma túy.

- Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định, tổng khối lượng 0,4724 gam; 01 túi nilon zipper, miệng sọc đỏ, kích thước (7,4x4,2)cm; 02 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín hai đầu, kích thước lần lượt (3,3 x 01)cm và (3,7 x 01)cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu kích thước (3,3 x 01)cm; 01 lọ thủy tinh cao 09cm, đường kính đáy 4,3cm, có nắp màu đen; trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài 20cm, đường kính 0,6cm; lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống thủy tinh dài 11cm, đường kính 0,6cm, một đầu được uốn cong hình quả cầu đường kính 1,8cm, bên trong còn bám khói muội màu đen, đầu còn lại gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài 03cm.

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 29/12/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng và Phòng THADS khu vực 6 – Lâm Đồng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Anh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ