- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 02/2026/HS-ST. - phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (điều 326 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 326 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HS-ST. Ngày 07/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TỈNH TUYÊN QUANG.
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bích
2. Bà Nông Thị Hương
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Hường – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 44/2025/TLST-HS, ngày 16 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
* Họ và tên: Tướng Thị S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 01/4/1990 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT: Thôn 8 Minh Phú, xã Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ở: Thôn 7 Minh Phú, xã Y, tỉnh Tuyên Quang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Tướng Văn Đ, S năm 1966 và bà Hoàng Thị B, S năm 1966; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ ba; Chồng: Đặng Văn C, S năm 1989; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Y, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 02/10/2025 đến nay.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2024, do không có công ăn việc làm ổn định Tướng Thị S sinh năm 1990, trú tại thôn 8 Minh Phú, xã Y, tỉnh Tuyên Quang lên mạng xã hội Facebook tìm hiểu cách sử dụng tài khoản để phát video trực tiếp trên trang Stripchat.com để có thu nhập, thông qua việc phát hình ảnh trực tiếp (live streaming), sẽ có người xem trực tuyến và tương tác bằng tin nhắn, người xem trực tuyến nếu thích có thể thưởng, cho tiền thưởng (tip) bằng cách gửi tiền Tk (Token là một loại tiền ảo sử dụng trên trang web có được bằng cách nạp tiền) giá trị quy đổi 1tk = 0.05 USD; 20tk = 01 USD (Tương đương 26.000 đồng).
Sau khi tìm hiểu, S lập tài khoản có tên “[email protected]”, mật khẩu “Sinh1990” và liên hệ để trang Stripchat.com gửi tiền vào tài khoản ngân hàng số 88825999 của S mở tại ngân hàng Vietinbank và S được trang Web gửi cho 02 đồ chơi tình dục là dương vật giả màu hồng và màu đen, còn bản thân S tự mua một máy tính xách tay nhãn hiệu LENOVO và một Webcam để phát video khiêu dâm, kích dục trên web tên miền Stripchat.com. Để thu hút người xem và được tiền tip, S ăn mặc khêu gợi hoặc không mặc quần, áo và thực hiện những động tác thủ dâm, kích dục. Quá trình phát video khiêu dâm, kích dục nếu có người tip để yêu cầu S làm các hành động khiêu dâm thì S sẽ làm theo yêu cầu trong khoảng thời gian từ 40 giây đến 02 phút tuỳ theo việc tip nhiều hay ít của người xem. Hằng tuần trang Stripchat.com sẽ cộng số đồng xu của S được nhận trong video khiêu dâm quy đổi thành tiền Việt Nam đồng và chuyển tiền thù lao về tài khoản số 88825999 của S. Trong thời gian từ ngày 18/02/2025 đến ngày 08/4/2025, S đã nhận 34.077.700 đồng do tài khoản số 0001033297907 và 0009899155939 cùng mang tên Võ Văn L sinh năm 1989, trú tại Hẻm 126, đường Ung Chiếm, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng) mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chuyển đến tài khoản số 88825999 của S.
Quá trình điều tra xác định S đã 07 lần livestream truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 10 người đến dưới 20 người xem và 03 lần livestream truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 21 người đến dưới 100 người xem, cụ thể:
Lần 1: Ngày 08/02/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 12 đến 18 người xem, thể hiện tại tập tin screen-20250208-014740.mp4, dung lượng 40.2MB, thời lượng 01 phút 12 giây, tạo hồi 01 giờ 46 phút; tập tin screen-20250208-015225.mp4, dung lượng 49.5MB, thời lượng 01 phút 32 giây, tạo hồi giờ 01 giờ 51 phút; tập tin screen-20250208-020744.mp4, dung lượng 10.4MB, thời lượng 23 giây, tạo hồi 02 giờ 07 phút và tập tin screen-20250208-020929.mp4, dung lượng 52.7MB, tạo hồi 02 giờ 07 phút, kết thúc hồi 02 giờ 08 phút 32 giây.
Lần 2: Ngày 09/02/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 03 đến 23 người xem, thể hiện tại tập tin screen-20250209-172045.mp4, dung lượng 12.4MB, thời lượng 34 giây, tạo hồi 17 giờ 20 phút; tập tin screen-20250209202029.mp4, dung lượng 44.3MB, thời lượng 55 giây, tạo hồi 21 giờ 19 phút; tập tin screen-20250209-213807.mp4, dung lượng 8.29MB, thời lượng 07 giây, tạo hồi 21 giờ 37 phút và tập tin screen-20250209-214733.mp4, dung lượng 11.0MB, tạo hồi 21 giờ 47 phút, kết thúc hồi 21 giờ 47 phút 13 giây.
Lần 3: Ngày 10/02/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 14 đến 17 người xem, thể hiện tại tập tin screen-20250210-115247.mp4, dung lượng 33.3MB, thời lượng 41 giây, tạo hồi 11 giờ 52 phút và tập tin screen-20250210115646.mp4, dung lượng 79.3MB, tạo hồi 11 giờ 55 phút, kết thúc hồi 11 giờ 56 phút 20 giây.
Lần 4: Ngày 10/02/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 12 đến 46 người xem, thể hiện tại tập tin screen-20250210-214449.mp4, dung lượng 34.1MB, thời lượng 43 giây, tạo hồi 21 giờ 44 phút; tập tin recording20250210_214553.mp4, dung lượng 35.4MB, thời lượng 46 giây, tạo hồi 21 giờ 45 phút; tập tin screen-20250210-220721.mp4, dung lượng 191MB, thời lượng 04 phút 29 giây, tạo hồi 22 giờ 02 phút; tập tin screen-20250210222417.mp4, dung lượng 186MB, thời lượng 04 phút 36 giây, tạo hồi 22 giờ 19 phút; tập tin screen-20250210-222724.mp4, dung lượng 135MB, thời lượng 02 phút 28 giây, tạo hồi 22 giờ 24 phút; tập tin recording20250210_222749.mp4, dung lượng 25.2MB, thời lượng 47 giây, tạo hồi 22 giờ 27 phút và tập tin screen-20250210-223332, dung lượng 190MB, tạo hồi 22 giờ 30 phút, kết thúc hồi 22 giờ 33 phút 21 giây.
Lần 5: Ngày 17/02/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 14 đến 24 người xem, thể hiện tại tập tin VID_20250217202404.mp4, dung lượng 125MB, tạo hồi 21 giờ 18 phút, kết thúc hồi 21 giờ 23 phút 08 giây.
Lần 6: Ngày 13/3/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 02 đến 15 người xem, thể hiện tại tập tin VID_20250313105856.mp4, dung lượng 312MB, tạo hồi 09 giờ 12 phút, kết thúc hồi 09 giờ 18 phút 15 giây.
Lần 7: Ngày 26/3/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 16 đến 19 người xem, thể hiện tại tập tin screen-20250326-000031.mp4, dung lượng 82.7MB, tạo hồi 23 giờ 58 phút, kết thúc hồi 23 giờ 59 phút 38 giây.
Lần 8: Ngày 02/4/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 03 đến 10 người xem thể hiện tại tập tin screen-20250402-100135.mp4, dung lượng 145MB, thời lượng 03 phút 38 giây, tạo hồi 09 giờ 57 phút; tập tin screen-20250402-100517.mp4, dung lượng 170MB, thời lượng 03 phút 32 giây, tạo hồi 10 giờ 01 phút; tập tin screen-20250402-101816.mp4, dung lượng 121MB, thời lượng 02 phút 45 giây, tạo hồi 10 giờ 15 phút và tập screen-20250402-102237.mp4, dung lượng 66.8MB, tạo hồi 10 giờ 21 phút, kết thúc hồi 10 giờ 22 phút 28 giây.
Lần 9: Ngày 04/4/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 08 đến 12 người xem thể hiện tại tập tin screen-20250404-120411.mp4, dung lượng 189MB, tạo hồi 11 giờ 59 phút, kết thúc hồi 12 giờ 03 phút 21 giây.
Lần 10: Ngày 06/4/2025, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 06 đến 14 người xem thể hiện tại tập tin screen-20250406-105000.mp4, dung lượng 69.2MB, thời lượng 01 phút 19 giây, tạo hồi 10 giờ 48 phút và tập tin screen-20250406-110450.mp4, dung lượng 192MB, tạo hồi 11 giờ 01 phút, kết thúc hồi 11 giờ 04 phút 36 giây.
Tổng số 10 lần, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 10 người đến 46 người xem (từ số lần thấp nhất đến lần có người xem cao nhất) thu lợi số tiền 34.077.700 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định từ ngày 10/01/2025 đến ngày 09/4/2025, S còn sử dụng mạng internet thông qua Web có tên miền http://stripchat.com, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy bằng hình thức khiêu dâm, kích dục 13 lần trên Web có tên miền Stripchat.com cho dưới 10 người xem.
Tại bản kết luận giám định Sản phẩm văn hóa ngày 06/5/2025 của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang đối với file video, hình ảnh đã thu giữ trong quá trình điều tra, kết luận: 20 (hai mươi) file video lưu trữ trong USB màu đen, nhãn hiệu SanDisk, dung lượng 16GB là văn hóa phẩm khiêu dâm, đồi trụy, kích thích tình dục có nội dung thể hiện lối sống dâm ô đồi trụy; có hình ảnh, âm thanh, hành động khiêu gợi, trụy lạc, hoạt động mô tả khỏa thân kích thích tình dục; mô tả nhu cầu tình dục; mô tả bộ phận sinh dục, hành động thủ dâm dưới mọi hình thức; 24 (hai mươi tư) file video chứa bên trong đĩa DVD không có nội dung đồi trụy, kích dục.
Tại bản kết luận giám định số 573/KL-KTHS, ngày 19/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Không đủ cơ sở xác định các file video mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A20 có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không (do các file video cần giám định được ghi hình bằng chế độ ghi lại màn hình trên thiết bị trình chiếu video). Tổng dung lượng của 20 (hai mươi) file video mẫu cần giám định là: 0.147407889 Gigabyte.
Tại bản kết luận giám định số 964/KL-KTHS, ngày 23/9/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Tìm thấy 53 (năm mươi ba) file video (ký hiệu từ A1 đến A53) tại thư mục Document có đường dẫn “realme C61\Bộ nhớ trong dùng chung Documents” trong điện thoại di động mẫu cần giám định. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong các file video ký hiệu từ A1 đến A53. Tổng dung lượng của 53 (năm mươi ba) file video mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A53 là: 4.88272468 Gigabyte.
Tại bản Kết luận ngày 26/9/2025 của Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Tuyên Quang, kết luận: Trong tổng số 53 (năm mươi ba) file video cần giám định nội dung (lưu tại thư mục Documents của máy điện thoại di động, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, loại C61, kiểu máy RMX3930, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 867067071300314, số IMEI 2: 867067071300306) có nội dung khiêu dâm, đồi trụy bao gồm: Có hình ảnh, âm thanh, hành động khêu gợi, kích thích dâm ô, trụy lạc, hoạt động mô tả khỏa thân kích thích tình dục; mô tả nhu cầu tình dục; mô tả bộ phận sinh dục.
Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSKV2, ngày 14 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang đã truy tố Tướng Thị S về tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ” theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 326 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tướng Thị S về tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tướng Thị S từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) Webcam có chữ “logi” trên phần mắt camera và dây kết nối dữ liệu, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định); 01 (một) laptop nhãn hiệu Lenovo, moden Yoga Slim 7 Pro 14 HU; MO: PF9XB2606502; NTM: 82NH0OALVN; Mfg Date: 2022/06/06. Laptop có vỏ màu bạc bằng kim loại, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định). Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) dụng cụ hình trụ có kích thước 24cm, phần rộng nhất có đường kính 4cm, phần thân nhựa màu đen có kích thước 18cm (có một vòng kim loại rộng 0,5cm); tiếp giáp là hình trụ có đường kính 2,7cm, dài 1,2cm; tiếp theo là phần nhựa dẻo hình bầu dục có chiều dài 5cm; phần rộng nhất có đường kính 4cm; khi ấn nút tại phần thân có thể bật, tắt và điều chỉnh chế độ rung của phần nhựa dẻo ở đầu dụng cụ (được niêm phong theo quy định); 01 (một) dụng cụ được bao bằng nhựa dẻo màu hồng hình vòng cung, hai đầu có hình giọt nước, một đầu có đường kính tại nơi to nhất là 01cm; một đầu có đường kính rộng nhất là 3,5cm. Chiều dài giữa hai đầu là 10,5cm; chiều dài giữa đỉnh hình vòng cung và mặt cắt hai đầu là 9cm. Có chế độ rung ở hai đầu dụng cụ (được niêm phong theo quy định); 01 (một) chai sữa tắm nhãn hiệu Ovailove White Deluxe loại 180g, bên trong còn dung dịch (không tiến hành kiểm tra và đong đếm), (được niêm phong theo quy định). Trả lại cho Lý Thị Hiền 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, loại C61, kiểu máy RMX3930, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 867067071300314, số IMEI 2: 867067071300306, điện thoại không gắn sim, thẻ nhớ, chứa 53 (năm mươi ba) video lưu tại thư mục Documents của máy (được niêm phong theo quy định). Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 34.077.700 đồng, là tiền bị cáo thu lợi bất chính, ghi nhận bị cáo đã tự nguyện nộp đủ số tiền truy thu. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội, làm ăn nuôi dạy các con trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ các kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/02/2025 đến ngày 06/4/2025, Tướng Thị S sinh năm 1990, trú tại thôn 8 Minh Phú, xã Y, tỉnh Tuyên Quang (hiện cư trú tại thôn 7 Minh Phú, xã Y, tỉnh Tuyên Quang) đã có hành vi sử dụng mạng Internet quay phát trực tiếp để truyền bá âm thanh, hình ảnh có nội dung khiêu dâm, kích dục nhiều lần thông qua trang Web có tên miền http://stripchat.com, cụ thể: Lần 1: Từ 01 giờ 46 phút đến 02 giờ 08 phút 32 giây ngày 08/02/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 12 đến 18 người xem. Lần 2: Từ 17 giờ 20 phút đến 21 giờ 47 phút 13 giây ngày 09/02/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 03 đến 23 người xem. Lần 3: Từ 11 giờ 52 phút đến 11 giờ 56 phút 20 giây ngày 10/02/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 14 đến 17 người xem. Lần 4: Từ 21 giờ 44 phút đến 22 giờ 33 phút 21 giây ngày 10/02/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 12 đến 46 người xem. Lần 5: Từ 21 giờ 18 phút đến 21 giờ 23 phút 08 giây ngày 17/02/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 14 đến 24 người xem. Lần 6: Từ 09 giờ 12 phút đến 09 giờ 18 phút 15 giây ngày 13/3/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 02 đến 15 người xem. Lần 7: Từ 23 giờ 58 phút đến 23 giờ 59 phút 38 giây ngày 26/3/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 16 đến 19 người xem. Lần 8: Từ 09 giờ 57 phút đến 10 giờ 22 phút 28 giây ngày 02/4/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 03 đến 10 người xem. Lần 9: Từ 11 giờ 59 phút đến 12 giờ 03 phút 21 giây ngày 04/4/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 08 đến 12 người xem. Lần 10: Từ 10 giờ 48 phút đến 11 giờ 04 phút 36 giây ngày 06/4/2025, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho 06 đến 14 người xem. Tổng số 10 lần, S truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho từ 10 người đến 46 người xem (từ số lần thấp nhất đến lần có người xem cao nhất) thu lợi số tiền 34.077.700 đồng. Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định từ ngày 10/01/2025 đến ngày 09/4/2025, S còn sử dụng mạng internet thông qua Web có tên miền http://stripchat.com, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy bằng hình thức khiêu dâm, kích dục 13 lần trên Web có tên miền Stripchat.com cho dưới 10 người xem. Hành vi sử dụng mạng Internet quay phát trực tiếp để truyền bá âm thanh, hình ảnh có nội dung khiêu dâm, kích dục nhiều lần thông qua trang Web mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 326 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.
Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm trực tiếp trật tự quản lý hành chính về văn hoá của Nhà nước, vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội, thuần phong mĩ tục, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo còn là hành vi bị xã hội lên án và được dư luận xã hội quan tâm về việc xử lý những hành vi này. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, có tiếp xúc xã hội, có trình độ học vấn, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi sử dụng mạng Internet quay phát trực tiếp để truyền bá âm thanh, hình ảnh có nội dung khiêu dâm, kích dục là hành vi trái pháp luật, nhưng vì hám lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 10 lần thực hiện hành vi phạm tội đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện; bị cáo đã tự nguyện toàn bộ số tiền 34.077.700 đồng là tiền bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã có những đóng góp cho chương trình an sinh xã hội tại địa phương (bị cáo ủng hộ số tiền 3.000.000 đồng vào quỹ vì người nghèo của xã Y, tỉnh Tuyên Quang); khi nhặt được tài sản bị rơi của người khác bị cáo kịp thời báo cơ quan Công an và trả lại tài sản cho chủ tài sản. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, bị cáo có 02 con còn nhỏ trong độ tuổi đi học, sau khi hành vi phạm tội của bị cáo bị phát hiện bị cáo có ý thức tích cực, thật sự nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình, xã hội, lao động nuôi dưỡng và chăm sóc, giáo dục các con của bị cáo.
Mức án mà Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp nên chấp nhận.
Bị cáo là người không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ một số tài sản, đồ vật, xét thấy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) Webcam có chữ “logi” trên phần mắt camera và dây kết nối dữ liệu, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định); 01 (một) laptop nhãn hiệu Lenovo, moden Yoga Slim 7 Pro 14 HU; MO: PF9XB2606502; NTM: 82NH0OALVN; Mfg Date: 2022/06/06. Laptop có vỏ màu bạc bằng kim loại, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định). Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) dụng cụ hình trụ có kích thước 24cm, phần rộng nhất có đường kính 4cm, phần thân nhựa màu đen có kích thước 18cm (có một vòng kim loại rộng 0,5cm); tiếp giáp là hình trụ có đường kính 2,7cm, dài 1,2cm; tiếp theo là phần nhựa dẻo hình bầu dục có chiều dài 5cm; phần rộng nhất có đường kính 4cm; khi ấn nút tại phần thân có thể bật, tắt và điều chỉnh chế độ rung của phần nhựa dẻo ở đầu dụng cụ (được niêm phong theo quy định); 01 (một) dụng cụ được bao bằng nhựa dẻo màu hồng hình vòng cung, hai đầu có hình giọt nước, một đầu có đường kính tại nơi to nhất là 01cm; một đầu có đường kính rộng nhất là 3,5cm. Chiều dài giữa hai đầu là 10,5cm; chiều dài giữa đỉnh hình vòng cung và mặt cắt hai đầu là 9cm. Có chế độ rung ở hai đầu dụng cụ (được niêm phong theo quy định); 01 (một) chai sữa tắm nhãn hiệu Ovailove White Deluxe loại 180g, bên trong còn dung dịch (không tiến hành kiểm tra và đong đếm), (được niêm phong theo quy định). Trả lại cho Lý Thị Hiền 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, loại C61, kiểu máy RMX3930, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 867067071300314, số IMEI 2: 867067071300306, điện thoại không gắn sim, thẻ nhớ, chứa 53 (năm mươi ba) video lưu tại thư mục Documents của máy (được niêm phong theo quy định).
Đối với số tiền 34.077.700 đồng, là tiền do bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có, cần truy thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền này bị cáo đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với website có tên miền Stripchat.com, quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh tại cơ quan quản lý nhà nước để xác định người quản lý nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xem xét trong vụ án.
Bị cáo Tướng Thị S sử dụng nhà ở của em gái là Tướng Thị Minh Thùy để thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên Thùy không biết việc Sinh thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý.
Đối với 02 số tài khoản ngân hàng chuyển tiền trả công cho bị cáo S gồm số 1033297907 và số 9899155939 mang tên Võ Văn L sinh năm 1989, trú tại Hẻm 126 Ung Chiếm, phường P, tỉnh Lâm Đồng mở tại ngân hàng Vietcombank. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang đã tiến hành xác minh, kết quả Võ Văn L không có mặt tại địa chỉ nơi cư trú, không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang đã thông báo thông tin liên quan đến Võ Văn L đến Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để phối hợp rà soát xử lý nếu có vi phạm.
Đối với 20 (hai mươi) tập tin lưu trữ trong USB màu đen, nhãn hiệu SanDisk, dung lượng 16GB là văn hóa phẩm khiêu dâm, đồi trụy, kích thích tình dục có nội dung thể hiện lối sống dâm ô đồi trụy; có hình ảnh, âm thanh, hành động khiêu gợi, trụy lạc, hoạt động mô tả khỏa thân kích thích tình dục; mô tả nhu cầu tình dục; mô tả bộ phận sinh dục, hành động thủ dâm dưới mọi hình thức, nhưng không đủ cơ sở xác định các file video này có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không, không đủ căn cứ xác định số lượng người S đã thực hiện hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy nên không đủ căn cứ xem xét xử lý hình sự.
Đối với 05 (năm) tập tin gồm: VIDEO_DOWNLOAD_1721722971825_ 1721723261166.mp4, dung lượng 15.5MB, thời lượng 02 phút 58 giây; VIDEO_DOWNLOAD_1739111096379_1739200703848.mp4,
dung
lượng 63.6MB, thời lượng 05 phút 26 giây; VIDEO_DOWNLOAD_1739111803899_17 39200700114.mp4, dung lượng 40.7MB, thời lượng 03 phút 28 giây; VIDEO_DOWNLOAD_1739111803991_1739200698366.mp4,
dung
lượng 28.4MB; VIDEO_DOWNLOAD _1739111804107_1739200690499.mp4, dung lượng 63.6MB, thời lượng 05 phút 26 giây, là tập tin được tải xuống, không xác định được thời gian Sinh thực hiện hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy nên không xem xét xử lý về hình sự.
Đối với 13 lần truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho dưới 10 người xem như chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang chuyển tài liệu đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đề nghị xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Tướng Thị S phạm tội Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ.
Xử phạt: Bị cáo Tướng Thị S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Truy thu của bị cáo Tướng Thị S số tiền 34.077.700đ (Ba mươi tư triệu không trăm bẩy mươi bẩy nghìn bẩy trăm đồng).
(Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 34.077.700 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000004, ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang)
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) Webcam có chữ “logi” trên phần mắt camera và dây kết nối dữ liệu, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định); 01 (một) laptop nhãn hiệu Lenovo, moden Yoga Slim 7 Pro 14 HU; MO: PF9XB2606502; NTM: 82NH0OALVN; Mfg Date: 2022/06/06. Laptop có vỏ màu bạc bằng kim loại, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định).
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) dụng cụ hình trụ có kích thước 24cm, phần rộng nhất có đường kính 4cm, phần thân nhựa màu đen có kích thước 18cm (có một vòng kim loại rộng 0,5cm); tiếp giáp là hình trụ có đường kính 2,7cm, dài 1,2cm; tiếp theo là phần nhựa dẻo hình bầu dục có chiều dài 5cm; phần rộng nhất có đường kính 4cm; khi ấn nút tại phần thân có thể bật, tắt và điều chỉnh chế độ rung của phần nhựa dẻo ở đầu dụng cụ (được niêm phong theo quy định); 01 (một) dụng cụ được bao bằng nhựa dẻo màu hồng hình vòng cung, hai đầu có hình giọt nước, một đầu có đường kính tại nơi to nhất là 01cm; một đầu có đường kính rộng nhất là 3,5cm. Chiều dài giữa hai đầu là 10,5cm; chiều dài giữa đỉnh hình vòng cung và mặt cắt hai đầu là 9cm. Có chế độ rung ở hai đầu dụng cụ (được niêm phong theo quy định); 01 (một) chai sữa tắm nhãn hiệu Ovailove White Deluxe loại 180g, bên trong còn dung dịch (không tiến hành kiểm tra và đong đếm), (được niêm phong theo quy định).
Trả lại cho Lý Thị Hiền, S năm 2000; trú tại thôn 7 Minh Phú, xã Y, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, loại C61, kiểu máy RMX3930, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 867067071300314, số IMEI 2: 867067071300306, điện thoại không gắn sim, thẻ nhớ, chứa 53 (năm mươi ba) video lưu tại thư mục Documents của máy (được niêm phong theo quy định).
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Tuyên Quang, Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang ngày 06/01/2026)
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Tướng Thị S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Thanh Huyền Phan Thị Bích – Nông Thị Hương
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND KV2-Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - Thi hành án hình sự; - UBND xã Y; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thanh Huyền |