- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A G - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HS-ST Ngày: 26/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Ngọc Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tiến Đạt và bà Trần Thanh Hòa
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Cao - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Mai Thanh Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2026/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Vàng A G, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1979, tại xã P, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: xóm H, xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A C, sinh năm 1962 và bà Khà Y H, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Giàng Y Ch, sinh năm 1980 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: không; tiền sự: ngày 20/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Phú Thọ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 22 tháng, theo Quyết định số 06/QĐ-TA (chấp hành xong ngày 16/11/2024); nhân thân: đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 88/QĐ-UBND ngày 10/09/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Pà Cò. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2025 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/10/2025 Tổ công tác Công an xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ đã yêu cầu Vàng A Gia, sinh năm 1979, trú tại xóm H, xã P, tỉnh Phú Thọ là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 88/QĐ-UBND ngày 10/09/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Pà Cò đến trụ sở để kiểm tra ma túy. Quá trình kiểm tra bằng que thử nước tiểu của Vàng A G cho kết quả dương tính với ma túy tổng hợp. Công an xã Pà Cò đã lập biên bản sự việc, tạm giữ vật chứng liên quan để điều tra làm rõ
Quá trình điều tra xác định: trưa ngày 09/10/2025, do có nhu sử dụng ma túy nên Vàng A G đã một mình đi bộ xung quanh xóm Hang Kia, xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đang đi bộ trên đường thì G có gặp một người đàn ông không quen biết mặc trang phục dân tộc Mông đang đi bộ cùng chiều. G dừng lại nói chuyện biết người đàn ông trên có bán ma túy, nên đã hỏi và mua được từ người đàn ông này 02 viên ma túy tổng hợp với số tiền 40.000 đồng. Mua được ma túy, G cầm trên tay rồi đi bộ quay về nhà. Cùng ngày, tại nhà ở của mình, Vàng A G đã lấy 02 viên ma túy vừa mua được ra sử dụng hết. Từ sau lần sử dụng ma túy đó đến thời điểm bị Công an xã Pà Cò kiểm tra, phát hiện có dương tính với ma túy, Gia không sử dụng ma túy thêm lần nào khác.
Ngày 11/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ ra quyết định trưng cầu giám định. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của Vàng A G.
Tại Bản kết luận giám định số: 2524/KL-KTHS, ngày 11/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận:
“Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong chai nhựa được dán giấy niêm phong có 01 dấu điểm chỉ ghi “Điểm chỉ ngón trỏ phải Vàng A G” gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và Amphetamine.
* Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Amphetamine nằm trong danh mục IIB, số thứ tự: 5, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Tại Cáo trạng số 14/CT - VKS - KV16 ngày 18/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Vàng A G về tội sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 256a của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử, luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
Về tội danh, hình phạt: đề nghị tuyên bố bị cáo Vàng A G phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Vàng A G từ 24 tháng đến 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/10/2025
Về các vấn đề khác: đối với người đàn ông mà G khai đã bán ma túy cho Gia, quá trình điều tra không xác định được là ai, việc mua bán ma túy không ai biết, không ai nhìn thấy do đó không có căn cứ để mở rộng điều tra. Đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, đồng ý với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ xác định: bị cáo Vàng A G là người đang bị Ủy ban nhân dân xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật phòng chống ma túy, nhưng ngày 09/10/2025 bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Vàng A G phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, tỉnh Phú thọ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy và chính sách quản lý đối với người nghiện ma túy. Là nguyên nhân gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm huỷ hoại nhân cách con người và phát sinh nhiều tội phạm hình sự khác. Do vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án tương xứng đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: bị cáo Vàng A G phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Vàng A G phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Vàng A G 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam 11/10/2025.
2. Về án phí:
Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vàng A G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 16 – Phú Thọ; - Trại tạm giam số 3 - CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan CS điều tra CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 16, tỉnh Phú Thọ; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Đào Ngọc Tiến |