vanban.org

Bản án 02/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhựt A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy: Tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng sau giám định 1,7052 gam, được niêm phong trong 01 (một) t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý ( Trần Nhựt Anh) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhựt A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2026/HS-ST
Ngày: 06/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tranh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Sĩ

Bà Trần Thị Tím

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thòn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm Cầu N thuộc trại tạm giam số 3 Công an tỉnh V, vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/TLST- HS, ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Nhựt A, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1990, nơi sinh: thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Số B, ấp T, xã C, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nuôi tôm; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng Ấ, sinh năm 1958 (chết) và bà Lưu Tuyết H, sinh năm 1958; vợ: Lê Thị Thảo N, sinh năm 2002, con Trần Nhựt V, sinh năm 2024; anh, chị, em ruột có 02 người (kể cả bị cáo), lớn nhất sinh năm 1986 (chết), nhỏ nhất là bị cáo; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 21/9/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 14/9/2025, Trần Nhựt A liên hệ với người bạn tên thường gọi là “Khải” qua ứng dụng Messenger. Trong quá trình nói chuyện, K gửi tặng Nhựt A một gói ma túy để sử dụng. Đến khoảng gần 22 giờ cùng ngày, K gọi Nhựt A qua ứng dụng Messenger, hẹn đến cầu N, thuộc ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long (gần nhà Nhựt A) để nhận ma túy. Trước khi đi nhận ma túy, Nhựt A xoá kết bạn với K qua ứng dụng Messenger và không mang theo điện thoại, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số 84E1-411.60 đến cầu N, tại đây Nhựt A gặp và nhận ma túy từ một người nam thanh niên không rõ tên, địa chỉ. Ma túy được để trong hộp nhựa có quấn băng keo màu đen, để hộp nhựa trên ba-ga (giá để hàng) phía trước của xe, điều khiển xe đến nhà nội của Nhựt A tên Nguyễn Thị Đ, ngụ ấp S, xã C, tỉnh Vĩnh Long mục đích để ăn cơm, nhưng đến nơi thấy nhà đóng cửa, tắt đèn, nên không vào mà quay đầu xe về nhà. Nhựt A điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp T, xã C thì gặp tổ tuần tra Công an xã C dừng xe kiểm tra, phát hiện trên ba-ga phía trước xe có một hộp nhựa được quấn băng keo đen xung quanh, lúc này Nhựt A hoảng sợ bỏ chạy, chạy bộ được một đoạn khoảng 30m thì bị Công an khống chế bắt giữ.

Khi bị bắt giữ Công an đã đưa Nhựt A lại vị trí xe lúc Công an kiểm tra, qua kiểm tra có sự chứng kiến của Nhựt A bên trong hộp nhựa có một túi nylon có viền màu đỏ chứa tinh thể rắn màu trắng. Theo lời trình bày của Nhựt A túi ny lon có viền màu đỏ chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy tổng hợp, Nhựt A cất giữ là để sử dụng. Căn cứ vào lời khai của Trần Nhựt A, vật chứng thu giữ được, nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và tạm giữ phương tiện.

Căn cứ Kết luận giám định số 165/KL-KTHS-KV3 ngày 18/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,7211 gam.

Về nguồn gốc số ma túy, Nhựt A khai do một người tên “Khải” quen biết qua ứng dụng Messenger. Người tên K không rõ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được.

Về phương tiện xe mô tô mà Trần Nhựt A sử dụng tại thời điểm phạm tội là xe nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, số máy JA39E-1215756, số khung RLHJA3913KY349298, biển số gốc 84AE-021.77 (tại thời điểm phạm tội xe mang biển số 84E1-411.60). Xe này do bà Trần Thị Mỹ T đứng tên đăng ký. Bà T đã cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe (ca-vẹt) tại Công ty C1, chi nhánh C2. Sau đó, bà T tiếp tục cầm cố chiếc xe cho Trần Nhựt A với số tiền 3.000.000 đồng. Biển số 84E1-411.60 là biển của một phương tiện khác, phát sinh từ giao dịch giữa Thạch H1 và T. Cụ thể, Thạch S mua xe từ T, sau đó trao đổi biển số và giấy chứng nhận đăng ký xe với Trương Quốc A1. Trương Quốc A1 chỉ tiếp nhận biển số và giấy chứng nhận đăng ký xe (chưa nhận phương tiện). Sau đó, Trần Nhựt A đã mượn và gắn biển số 84E1-411.60 (cùng giấy chứng nhận đăng ký xe do Trương Quốc A1 đang giữ) lên chiếc Honda Wave Alpha mang biển gốc 84AE-021.77 (xe do bà T đứng tên) để sử dụng lưu thông. Trên chính chiếc xe này, Nhựt A đã tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

Bà Trần Thị Mỹ T là chủ sở hữu hợp pháp xe mô tô biển số 84AE-021.77, nhãn hiệu Honda Wave Alpha đã cầm cho Trần Nhựt A. Bà T không biết việc Nhựt A sử dụng xe này để tráo đổi biển số thành 84E1-411.60 sử dụng tàng trữ ma túy, nên bà Trần Thị Mỹ T không có dấu hiệu cấu thành tội phạm. Về trách nhiệm dân sự, bà T không có yêu cầu nhận lại chiếc xe mô tô nêu trên.

Ông Trương Quốc A1 giao biển số 84E1- 411.60 và giấy đăng ký xe cho Trần Nhựt A mượn, không biết việc Trần Nhựt A sử dụng biển số và giấy tờ xe vào hành vi tàng trữ ma túy. Hành vi của Trương Quốc A1 không có dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Ông Thạch S có hành vi trao đổi biển số xe và giấy đăng ký xe 84E1-411.60 với Quốc A1, không biết việc Nhựt A lấy sử dụng. Không có dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, số máy JA39E-1215756, số khung RLHJA3913KY349298, 01 biển số xe 84E1-411.60 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 026647 và 01 chìa khóa của xe đã giao trả lại cho mẹ của Nhựt A quản lý.

Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKS-HS, ngày 27/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long truy tố bị cáo Trần Nhựt A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi đã tàng trữ ma túy loại Methamphetamine, mục đích để bị cáo sử dụng chứ không nhằm mục đích bán lại. Bị cáo thống nhất kết luận giám định số 165/KL-KTHS-KV3 ngày 18/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V. Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng mà thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Nhựt A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Nhựt A nói lời sau cùng:Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nhựt A khai nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 14/9/2025, Trần Nhựt A có nhận của một người nam thanh niên không rõ tên, địa chỉ một hộp nhựa có quấn băng keo màu đen bên trong có chứa ma túy tại khu vực cầu N, thuộc ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi nhận được ma túy xong, Trần Nhựt A điều khiển xe mô tô biển số 84E1-411.60 về nhà. Đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã C, tỉnh Vĩnh Long thì bị Tổ tuần tra công an xã C dừng xe kiểm tra và phát hiện một hộp nhựa có quấn băng keo màu đen để trên ba ga phía trước xe. Công an đã tiến hành lập biên bản tạm giữ hộp nhựa nêu trên. Bên trong hộp nhựa chứa tinh thể rắn màu trắng. Theo Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh V thì tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) túi nylon được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,7211 gam.

Từ những chứng cứ, căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Nhựt A phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, ma túy là chất độc hại, chất gây nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do đó mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo nhận thức và biết rõ những tác hại trực tiếp do ma túy gây ra đối với bản thân, gia đình và xã hội, bị cáo nhận ma tuý loại Methamphetamine từ người bạn không rỏ họ tên địa chỉ, mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích để mua bán, khi bị cáo chưa sử dụng thì bị Công an xã C kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt quả tang” thu giữ vật chứng, gửi đi giám định kết luận là chất ma túy Methamphetamine.

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bản thân bị cáo có sức khỏe ổn định đủ điều kiện để nuôi sống bản thân và gia đình. Năm 2018, bị cáo đã đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, sau khi cai nghiện trở về bị cáo không lo làm ăn, tạo ra của cải vật chất chính từ sức lao động của mình để vươn lên, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, do nhằm thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo bất chấp để vi phạm pháp luật. Cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo thấp và tư tưởng xem thường pháp luật.

Để ổn định tình hình trật tự ở địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục và tạo điều kiện cho bị cáo học tập lao động để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bà C là Mẹ Việt Nam A, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy Tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng sau giám định 1,7052 gam, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 24069336. 01 (một) hộp nhựa tròn màu trắng, có chiều dài 05cm, được quấn băng keo màu đen xung quanh thân hộp, phía trên có nắp đậy, đường kính nắp đậy 03cm: phần đáy kín, đường kính đáy 2,5cm, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 24071502.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Nhựt A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhựt A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Nhựt A 03 (Ba) năm (06) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 15/9/2025.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: Tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng sau giám định 1,7052 gam, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 24069336. 01 (một) hộp nhựa tròn màu trắng, có chiều dài 05cm, được quấn băng keo màu đen xung quanh thân hộp, phía trên có nắp đậy, đường kính nắp đậy 03cm: phần đáy kín, đường kính đáy 2,5cm, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 24071502.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Nhựt A có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ