vanban.org

Bản án 02/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Lê C phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Võ Văn Lê C 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2025 Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo Van Lê C- Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn Lê C phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-–––––––––––––––
Bản án số: 02/2026/HS-ST
Ngày 19-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu

Bà Nguyễn Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Q. Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Văn Lê C, sinh ngày 07 tháng 4 năm 2003 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi thường trú: thôn N, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; nơi ở hiện tại: thôn P, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C1 và bà Lê Thị C2; vợ là Nguyễn Thị Kim T, có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 24/12/2020, bị Công an huyện N, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC về hành vi cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong ngày 28/01/2021.

- Ngày 20/11/2023, bị Ủy ban nhân dân xã N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 314/QĐ-XPHC về hành gây rối trật tự công cộng. Đã chấp hành xong ngày 30/01/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q, có mặt tại điểm cầu thành phần.

Tại điểm cầu trung tâm:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Đức H, sinh ngày: 18/7/2009, nơi cư trú: Thôn A, xã M, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho anh Trần Đức H: Ông Trần Đức T1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1979 (là cha mẹ của anh Trần Đức H), cùng nơi cư trú: Thôn A, xã M, tỉnh Quảng Ngãi. Ông T1 vắng mặt, bà P có mặt.

- Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn A, xã M, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Ông Phạm L, sinh năm 1996, nơi cư trú: Thôn P, xã T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ, ngày 04/6/2025, Trần Đức H đang ở nhà thì có một người tên “Nhỏ” (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại qua ứng dụng Z cho H hỏi người bán ma túy “kẹo”, “khay”, H nói để hỏi người khác. H sử dụng tài khoản facebook “Trần Đức H” nhắn tin, gọi điện thoại đến tài khoản “Võ Văn Lê C” của Võ Văn Lê C để hỏi mua “nữa 5 4 nút” (nửa hộp năm ma túy “khay” và bốn viên ma túy “kẹo”) cho “Nhỏ” và nói “Nhỏ” đang đứng đợi tại đoạn đường bên cạnh Bệnh viện Sản nhi tỉnh Q (thuộc Tổ B, phường N, tỉnh Quảng Ngãi), C đồng ý nhưng do C không có ma túy nên C nói với H để C hỏi người khác sang tay (bán lại). Sau đó, C sử dụng ứng dụng Telegram nhắn tin, gọi điện thoại cho một người nam mà C lưu tên là “Đại Ca” (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi ma túy.“Đại Ca” báo giá với C nửa hộp năm ma túy “khay” giá 1.800.000 đồng và 04 viên ma túy “kẹo” giá 1.200.000 đồng, tổng 3.000.000 đồng. Chương nhắn tin lại cho H biết giá ma túy và Hiệp đồng Ý mua.

Sau khi thoản thuận xong giá ma túy, H nhắn tin số điện thoại của người mua ma túy cho C; C liên lạc với người này và được người này nói đang đợi ở đoạn đường bên cạnh Bệnh viện sản nhi tỉnh Q. Sau đó, C sử dụng ứng dụng Telegram nhắn tin, gọi điện cho “Đại Ca” nói khách mua ma túy đang đứng đợi ở đoạn đường bên cạnh Bệnh viện sản nhi tỉnh Q” thì “Đại Ca” nói C đi đến địa điểm này để lấy trước số tiền 3.000.000 đồng bán ma túy, đem về đưa cho “Đại ca” sẽ được trả công 400.000 đồng, còn ma túy sẽ do người khác mang đến, C đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-399.73 đi từ nhà trọ (ở thôn P, xã T, tỉnh Quảng Ngãi) đến đường L cạnh Bệnh viện sản nhi tỉnh Q thì thấy 02 người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) đang đứng đợi. Chương xác định 02 người này là khách mua ma túy, đứng đây để chờ nhận ma túy nên đi đến và nói lấy tiền ma túy 3.000.000 đồng thì 02 người này hỏi C “đồ đâu?” (ý hỏi là ma túy đâu); do chưa thấy người của “Đại Ca” đem ma túy đến nên C điều khiển xe đi, sau đó C tiếp tục quay lại chỗ 02 người này đang đứng để xem 02 người này nhận được ma túy chưa để lấy tiền thì 02 người này tiếp tục hỏi C “đồ đâu?”. Lúc này, có 01 người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe Wave Alpha màu đen đến và ném vật gì đó màu trắng xuống vỉa hè đường L gần trụ điện chỗ C đang đứng rồi bỏ đi; C thấy và biết người nam trên là người của “Đại Ca”, ném vật màu trắng xuống vỉa hè là ma túy (nửa hộp năm ma túy “khay” và 04 viên ma túy “kẹo”) để bán cho 02 người nam là khách của H. Chương chỉ chỗ có vật màu trắng chứa ma túy cho 02 người nam và tiếp tục hỏi số tiền 3.000.000 đồng mà 02 người này mua ma túy; khi C đang chỉ vị trí có ma túy cho 02 người nam trên biết và đợi lấy tiền bán ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Ngày 10/6/2025, Phòng K Công an tỉnh Q Kết luận giám định số: 530/KL-KTHS, kết luận:

- 04 (bốn) viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; khối lượng mẫu: 1,36 gam.

- Chất rắn màu trắng gửi giám định là ma túy; Loại: Ketamine; Khối lượng mẫu: 0,94 gam.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSKV1 ngày 26-11-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi truy tố bị cáo Võ Văn Lê C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Võ Văn Lê C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Võ Văn Lê C từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 9 tháng tù. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn Lê C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Ngày 04/6/2025, bên cạnh Bệnh viện sản nhi tỉnh Q, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q phát hiện bắt quả tang Võ Văn Lê C đang có hành vi mua bán trái phép 1,36gam ma túy MDMA và 0,94 gam ma túy Ketamine với số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo C khai nhận nguồn gốc số ma túy này là sau khi nhận được tin nhắn của Trần Đức H hỏi mua nửa hộp năm ma túy “khay” và bốn viên ma túy “kẹo” cho một người tên “Nhỏ”; bị cáo đã liên lạc với người tên “Đại ca” và “Đại ca” nói bị cáo đi đến địa điểm giao ma túy lấy trước số tiền 3.000.000 đồng bán ma túy, sẽ được trả công 400.000 đồng.

Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là: (1,36 gam/5 gam x 100%) + (0,94 gam/20 gam x 100%) = 31,9% < 100% nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSKV1 ngày 26-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi truy tố bị cáo Võ Văn Lê C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết tác hại của chất ma túy đối với cộng đồng, xã hội, nhưng bị cáo đã liên lạc với người tên Đại ca không rõ nhân thân lai lịch để bán cho một người tên “Nhỏ”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, đặc biệt trong tình hình xã hội hiện nay, tội phạm ma túy đang gia tăng, gây mất trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân để gây ra nhiều tội phạm khác, nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có bà nội là thương binh hạng ¾, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối tượng có liên quan:

- Đối với Trần Đức H: H là người trực tiếp nhắn tin cho bị cáo C để hỏi mua ma túy từ Chương để mua cho “Nhỏ”, thống nhất giá mua ma túy, nhắn tin số điện thoại người mua ma túy cho C, hành vi của H có dấu hiệu phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, H chỉ mới 15 tuổi 10 tháng 16 ngày, chưa đủ 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q căn cứ khoản 2 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính, chuyển tài liệu đến Ủy ban nhân dân xã M để lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với H.

- Đối với người tên “Đại ca”: Bị cáo C không biết về nhân thân, lai lịch của “Đại ca”. Qua tra cứu, số +8562093045275 không phù hợp với cấu trúc số điện thoại Việt Nam, căn cứ dữ liệu do L1 -ITU công bố về mã nước, mã khu vực, mã dịch vụ quốc tế, mã "856" là mã điện thoại quốc tế của nước Lào (L) "+" là mào đầu quốc tế. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q không đủ căn cứ để tiến hành xác minh, làm rõ.

- Đối với người thanh niên đem ma túy đến vứt trên vỉa hè: Bị cáo C khai là người của “Đại ca”, C không biết về nhân thân, lai lịch và chỗ ở của người này, không nhớ biển số xe. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh không đủ tài liệu để tiến hành xác minh, làm rõ.

- Đối với 02 (hai) người mua ma túy: H và bị cáo C không biết nhân thân, lai lịch của “Nhỏ” và người còn lại. Qua tra cứu, chủ thuê bao số điện thoại 0795.718.579 là ông Phạm L, ông L khai nhận không quen biết H và C, không mua ma túy của H và C. Đối với số thuê bao 0374.169.740, ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q có Công văn yêu cầu V, chi nhánh Tập đoàn C3 cung cấp thông tin chủ thuê bao; tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiếp tục điều tra xác minh, đề nghị xử lý sau.

- Đối với chủ xe mô tô 76B1-399.73: Chị Nguyễn Thị Kim T không biết việc bị cáo C mượn xe mô tô 76B1-399.73 để đi bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý chị T.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 23039998 dán kín, bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của phòng K Công an tinh Q bên trong đựng 01 (một) khẩu trang màu trắng; 1,21 gam mẫu ma túy loại MDMA; 0,73 gam mẫu ma túy loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói gửi giám định được niêm phong. Đây là ma túy liên quan đến việc mua bán nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24273515 dán kín, bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của phòng K Công an tỉnh Q bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, kiểu máy V1965A, màu đen, số IMEIl: 861112041932618, số IMEI2: 861112041932600, bên trong điện thoại có gắn 01 (một) thẻ sim Mobifone số seri: 8401250112604429IDE, số thuê bao: 0896388154. Đây là điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, nên tịch thu sung công.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 76B1-399.73 là tài sản của chị Nguyễn Thị Kim T mua trước khi kết hôn với bị cáo C. Chị T không biết việc bị cáo mượn xe mô tô để đi bán ma túy nên trả lại cho chị T.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Điều 106, 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Lê C phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Bị cáo Võ Văn Lê C 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2025

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 23039998 dán kín, bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của phòng K Công an tỉnh Q bên trong đựng 01 (một) khẩu trang màu trắng; 1,21 gam mẫu ma túy loại MDMA; 0,73 gam mẫu ma túy loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói gửi giám định được niêm phong.

- Tịch thu sung công: 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24273515 dán kín, bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của phòng K Công an tỉnh Q bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, kiểu máy V1965A, màu đen, số IMEIl: 861112041932618, số IMEI2: 861112041932600, bên trong điện thoại có gắn 01 (một) thẻ sim Mobifone số seri: 8401250112604429IDE, số thuê bao: 0896388154.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim T 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 76B1-399.73.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày lập ngày 27/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Quảng Ngãi).

3. Về án phí: Bị cáo Võ Văn Lê C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND khu vực 1- Quảng Ngãi;

- Phòng THADS khu vực 1- Quảng Ngãi;

- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Cơ quan THAHS CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Phòng HSNV CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Trại tạm giam số 1, CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Thanh Như

- Lưu hồ sơ, lưu án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phùng Xuân Thu Nguyễn Thị B Nguyễn Thị Thanh Như THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phùng Xuân Thu Nguyễn Thị Bình Nguyễn Thị Thanh N Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒN G XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND Tp. Quảng Ngãi;

- Chi cục THADS Tp. Quảng Ngãi;

- Cơ quan CSĐT CATP Quảng Ngãi;

- Cơ quan THAHS CATP Quảng Ngãi;

- Phòng NVLT CATP Quảng Ngãi;

- Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Thanh Như

- Lưu hồ sơ, lưu án văn.

Cỡ chữ