- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Duy Thị N - Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật phá sản và luật hoà giải
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2026/HNGĐ-ST Ngày 08 - 01 - 2026 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Minh
2. Bà Vũ Thị Hoà
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6
- Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Duy Thị N - Sinh năm 1976
Địa chỉ: Tổ 21 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L - Sinh năm 1974
Địa chỉ: Tổ 21, phường K, tỉnh Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Duy Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 19/11/1994 tại Uỷ ban nhân dân xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Tề Lỗ, tỉnh Phú Thọ). Sau đó do mâu thuẫn nên anh chị đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai (Nay là Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai). Theo quyết định trên Toà án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L, giao cháu Nguyễn Chung Hiếu - Sinh ngày 26/02/2011 cho chị Nguyễn Duy Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Chung Hiếu đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung, cháu Nguyễn Thị Thu Trà - Sinh ngày 19/7/1998 đã đủ 18 tuổi nên anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn một thời gian, do sự tác động của gia đình và các con nên ngày 29/9/2025 chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L đã quay lại đoàn tụ với nhau và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên sau khi kết hôn giữa anh chị vẫn có quá nhiều mâu thuẫn, không thể hoà hợp được, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh L không tôn trọng chị N khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã được gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được, anh chị thực tế đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Nay chị Nguyễn Duy Thị N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Nguyễn Văn L được nữa, chị cũng không còn tình cảm với anh L nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu T - Sinh ngày 19/7/1998 và cháu Nguyễn Chung H- Sinh ngày 26/02/2011. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai (Nay là Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai) đã giải quyết về quan hệ con chung giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L, nên trong vụ án này chị Nguyễn Duy Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Chị Nguyễn Duy Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Nguyễn Văn L thường xuyên đi làm, thỉnh thoảng mới về nhà nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn L theo đúng quy định nhưng anh Nguyễn Văn L không có văn bản trả lời và không đến Toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử và tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn L.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Duy Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Văn L có nơi cư trú tại Tổ 21 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hoà giải, đối thoại tại Toà án số 85/2025/QH15.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết công khai hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng anh Nguyễn Văn L không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nguyên đơn chị Nguyễn Duy Thị N đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, do đó đây là vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ Luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Duy Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn với nhau ngày 29/9/2025 tại Uỷ ban nhân dân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng, chị Nguyễn Duy Thị N xác định trước đây chị và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 19/11/1994 tại Uỷ ban nhân dân xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Tề Lỗ, tỉnh Phú Thọ), sau đó do mâu thuẫn nên anh chị đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai (Nay là Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai). Sau khi ly hôn một thời gian, do sự tác động của gia đình và các con nên chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L đã quay lại đoàn tụ với nhau và đăng ký kết hôn ngày 29/9/2025 tại Uỷ ban nhân dân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên sau khi kết hôn giữa anh chị vẫn có quá nhiều mâu thuẫn, không thể hoà hợp được, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh L không tôn trọng chị N khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã được gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được, anh chị thực tế đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế.
Tại biên bản xác minh ngày 06/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L có xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh chị thường xuyên cãi nhau, địa phương đã can thiệp, hoà giải nhưng mâu thuẫn giữa anh chị vẫn không cải thiện được, nội dung xác minh của Toà án là phù hợp với lời khai của chị Nguyễn Duy Thị N. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Duy Thị N đối với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu T - Sinh ngày 19/7/1998 và cháu Nguyễn Chung H - Sinh ngày 26/02/2011. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai (Nay là Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai) đã giải quyết về con chung giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L, trong vụ án này chị Nguyễn Duy Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Duy Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai: Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hoà giải, đối thoại tại Toà án số 85/2025/QH15; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Duy Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, xác nhận chị Nguyễn Duy Thị N đã nộp đủ tiền án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001717 ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Duy Thị N và anh Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh;VKSND tỉnh; - VKSND KV 6 - Lào Cai; - Các đương sự; - Phòng THADS KV 6 - Lào Cai; - UBND phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thu Trang |