- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph; buộc bị đơn Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph tổng số tiền 865.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/KDTM-ST Ngày: 20-8-2025 “Vv Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, mua bán hàng hoá” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Ly.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Đạm.
2. Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án Nhân dân khu vực 2 - Huế, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2-Huế không tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án Nhân dân khu vực 2-Huế xét xử công khai, trực tiếp vụ án dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-KDTM ngày 03/4/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-KDTM ngày 01/8/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph.
Trụ sở: Số 12 đường Võ Trọng Bình, phường Thanh Thủy, thành phố Huế.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bá K, chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph.
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Ông Nguyễn Minh Ch. Địa chỉ: Số 12 đường Võ Trọng Bình, phường Thanh Th, thành phố H (Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/8/2025). Có mặt.
- Ông Văn Đức H. Địa chỉ: Số 32/203 đường Nguyễn Tất Thành, phường Thanh Thuỷ, thành phố H (Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/8/2025). Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H.
Trụ sở: Số 54 đường Tản Đà, phường Hương A, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Th, chức danh: Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trung Đ.
Địa chỉ: Số 54 đường Tản Đà, phường Hương A, thành phố H (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 08/5/2025). Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/02/2025, quá trình hòa giải và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Thứ nhất: Giữa Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph và Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có mối quan hệ làm ăn đến nay gần 30 năm; đến mùa vụ thu dịch vụ nông nghiệp luôn có số tiền đưa cho công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H để trả trước tiền hàng cho vụ sau. Cụ thể:
- Ngày 23/11/2022, Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có vay vốn của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph số tiền 700.000.000đ theo Hợp đồng vay vốn số: 150/HĐV.VTNN/2022; thời hạn vay 03 tháng, lãi suất vay tại thời điểm vay vốn 0,8%/1 tháng hoặc theo Thông báo từng thời điểm của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H Ngày 23/11/2022 Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có lập Phiếu thu số tiền 700.000.000đ.
- Tại các Biên bản xác nhận, đối chiếu công nợ các ngày 10/11/2022; ngày 14/01/2023, ngày 15/01/2024, ngày 30/6/2024 và ngày 31/12/2024 thì Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H thừa nhận nợ số tiền gốc 700.000.000đ.
Thứ hai, Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H còn nợ tiền mua bán hàng hoá là vật tư nông nghiệp như phân bón với số tiền 25.097.000đ; tiền lãi 6.804.000đ được Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H lập xác nhận công nợ được lập ngày 22/7/2022.
Sau khi thừa nhận các khoản nợ thì Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H gửi Thông báo, Tờ trình cho Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Phương đề nghị gia hạn và cam kết trả nợ, nhưng không thực hiện, vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Việc xác nhận, đối chiếu công nợ thì các thành viên Hội đồng quản trị như bà Nguyễn Thị Bích Ng - Chủ tịch Hội đồng quản trị, ông Phạm Thái Hải Phg - Thành viên Hội đồng quản trị đều biết, thừa nhận. Sau đó, Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H còn đề nghị Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Phg cho chia nhỏ số tiền nợ ra cho 05 Công ty khác nhau để nhận nợ, nhưng Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph không đồng ý.
- Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H là pháp nhân nên quyền và nghĩa vụ phải được kế thừa nếu có thay đổi về nhân sự Hội đồng quản trị, trong khi đó người đại diện theo pháp luật từ khi ký kết Hợp đồng vay vốn, ký biên bản đối chiếu công nợ vẫn là ông Trần Thuyên. Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H đề nghị đưa bà Trương Thị Thu H, bà Trần Thị Da L vào tham gia tố tụng là không đúng vì những người này là Nhân viên của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H; việc bà Trương Thị Thu Hương, bà Trần Thị Da L có làm sai thì đó là việc giữa pháp nhân và cá nhân, không liên quan gì trong vụ án này.
Vì vậy, Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph yêu cầu Toà án buộc Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Phương tổng cộng số tiền là 865.555.000đ. Cụ thể:
- Số tiền nợ gốc theo Hợp đồng vay vốn số: 150/HĐV.VTNN/2022 ngày 23/11/2022 là 700.000.000đ; số tiền lãi tính đến ngày 30/6/2024 là 133.654.000đ.
- Số tiền nợ tiền mua hàng hóa là 25.097.000đ, tiền lãi tính đến ngày 30/6/2024 là 6.804.000đ.
Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph không yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 01/7/2024 cho đến thời điểm giải quyết xong vụ án.
- Tại bản tự khai ngày 26/5/2025; quá trình hoà giải người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H trình bày:
- Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ mua hàng hóa là 25.097.000đ và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2024 là 6.804.000đ thì Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H hoàn toàn đồng ý, nhưng chưa có phương án thanh toán.
- Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc 700.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 30/6/2024 là 133.654.000đ thì Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H chưa đồng ý vì tại thời điểm tháng 7, 8 năm 2024, Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có thay đổi Kế toán trưởng; bộ phận Kế toán cũ và mới chưa thống nhất số liệu; bàn giao tài liệu, chứng từ; bộ phận Kế toán cũ không giải trình được khoản tiền vay nợ 700.000.000đ sử dụng vào mục đích gì; sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H không thể hiện số tiền 700.000.000đ.
Đồng thời Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H đề nghị đưa bà Trương Thị Thu H trước đây là Kế toán trưởng của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với lý do: Liên quan đến số tiền mà bà Trương Thị Thu H với tư cách là Kế toán trưởng thu về có hay không sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H. Nếu bà Trương Thị Thu H không giải trình được thì phía Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H sẽ có yêu cầu độc để yêu cầu bà Trương Thị Thu H bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H. Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H đã tiến hành làm việc với bà Trương Thị Thu H thì bà Trương Thị Thu H có cung cấp 01 cuốn sổ chi tiết công nợ có thể hiện số tiền vày 700.000.000đ.
- Tại Đơn trình bày ý kiến tại phiên toà ngày 18/8/2025, Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H: Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Phương vì số tiền gốc và tiền lãi mà Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph yêu cầu là không đúng; chưa xác định số liệu cụ thể và đề nghị đưa bà Trương Thị Thu H và bà Trần Thị Da L vào tham gia tố tụng để chốt số nợ cụ thể.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 30/6/2025 bà Trương Thị Thu H trình bày: Bà Trương Thị Thu H là Kế toán của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H; bà Trương Thị Thu Hxác nhận Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H còn nợ Hợp tác xã Nông nghiệp Thuỷ Ph số tiền gốc 700.000.000đ theo Hợp đồng vay vốn ngày 23/11/2022; bà Trương Thị Thu Hương không liên quan trong vụ án nên đề nghị Toà án không đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph khởi kiện Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có trụ sở đóng tại địa phận phường Hương A, thành phố H nên xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân khu vực 2 - H, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 30; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 năm 2025.
- Ông Nguyễn Trung Đ là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trung Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với vụ án này, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại các Điều 21, 97 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - H không tham phiên tòa.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph thấy rằng:
Thứ nhất, về số tiền cho vay và vay: Ngày 23/11/2022, Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có vay của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph số tiền 700.000.000đ theo Hợp đồng vay vốn số: 150/HĐV.VTNN/2022; thời hạn vay 03 tháng; lãi suất vay tại thời điểm vay vốn 0,8%/1 tháng hoặc theo Thông báo từng thời điểm của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H; cùng ngày 23/11/2022 Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H lập Phiếu thu số tiền 700.000.000đ. Tại các Biên bản xác nhận, đối chiếu công nợ các ngày 10/11/2022; 14/01/2023; 15/01/2024; 30/6/2024 và ngày 31/12/2024 thì Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H thừa nhận còn nợ số tiền gốc 700.000.000đ. Vì vậy, có căn cứ xác định Hợp đồng mà các đương sự đã ký kết là Hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn, có lãi phù hợp với quy định tại các Điều 463, 470 Bộ luật Dân sự.
Đối với ý kiến của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền theo Hợp đồng vay tài sản thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bên đương sự thực hiện giao dịch dân sự thông qua Hợp đồng, có xác nhận, đối chiếu công nợ. Việc Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H cho rằng số tiền gốc, tiền lãi đã đối chiếu là không đúng, nhưng không cung cấp được căn cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận. Mặt khác, tại thời điểm ông Trần Thuyên ký kết đối chiếu công nợ ngày 31/12/2024 thì phía Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H có sự tham gia của Hội đồng quản trị kể từ ngày 06/7/2024 gồm có 03 thành viên theo Thông báo số: 19/2024/HĐQT ngày 06/7/2024 của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H nên có căn cứ khẳng định số tiền nợ này phải thuộc về Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H.
Thứ hai, về số tiền nợ mua bán hàng hoá: Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H thừa nhận còn nợ tiền mua bán hàng hoá với số tiền 25.097.000đ, tiền lãi tính đến ngày 30/6/2024 với số tiền 6.804.000đ; lãi suất các bên đương sự thoả thuận là 0,8%/1 tháng. Việc thừa nhận này là phù hợp với yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Thứ ba, về vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Quá trình thực hiện Hợp đồng vay tài sản và tiền mua bán hàng hoá thì Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H nhiều lần gửi Thông báo, Tờ trình cho Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph đề nghị gia hạn thời gian trả nợ và cam kết trả nợ, nhưng đều không thực hiện theo cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thời hạn thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự.
Đối với ý kiến của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H về việc đưa bà Trương Thị Thu H, bà Trần Thị Da L tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thấy rằng: Trên cơ sở ý kiến của các đương sự, ý kiến bà Trương Thị H, các tài liệu trong vụ án thấy rằng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện giao dịch dân sự thông qua Hợp đồng dân sự, có đóng dấu xác nhận đối chiếu công nợ; bà H là kế toán, bà L là thủ quỹ của Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H, không phải là người đại diện theo pháp luật. Vì vậy, việc giải quyết vụ án này không làm phát sinh quyền lợi, nghĩa vụ của bà H, bà L. Vì vậy, Toà án không đưa bà H, bà L tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph, buộc Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph tổng số tiền 865.555.000đ, trong đó:
- Tiền gốc theo Hợp đồng vay vốn là 700.000.000đ, tiền lãi tính từ ngày 23/11/2022 đến ngày 30/6/2024 là 133.654.000đ. Tổng cộng 833.654.000đ.
- Tiền nợ mua hàng hóa là 25.097.000đ, tiền lãi tính từ ngày 25/4/2022 đến ngày 30/6/2024 là 6.804.000đ. Tổng cộng là 31.901.000đ.
Đối với số tiền lãi tính từ ngày 01/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm thì Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph được chấp nhận nên buộc Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H phải chịu số tiền [36.000.000đ + (865.555.000đ -800.000.000đ x 3%)] = 37.966.650đ (Làm tròn số 37.967.000đ).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 năm 2025.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 105; Khoản 1 Điều 166; Các Điều 192, 193; Khoản 1 Điều 206; Khoản 1 Điều 280, Điều 351; Điều 357; Các khoản 1, 5 Điều 466 và khoản 1 Điều 468; Khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 306 Luật Thương mại.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 5; Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph; buộc bị đơn Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph tổng số tiền 865.555.000đ (Tám trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng), trong đó: Tiền gốc và tiền lãi tính từ ngày 23/11/2022 đến ngày 30/6/2024 theo Hợp đồng vay vốn là 833.654.000đ (Tám trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn đồng); tiền nợ mua hàng hóa và tiền lãi tính từ ngày 25/4/2022 đến ngày 30/6/2024 là 31.901.000đ (Ba mươi mốt triệu chín trăn lẻ một nghìn đồng).
Đối với số tiền lãi tính từ ngày 01/7/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm thì Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph không yêu cầu là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thừa Thiên H phải chịu số tiền 37.967.000đ (Ba mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
- Trả lại cho Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Ph số tiền tạm ứng 18.984.000đ (Mười tám triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001201 ngày 03/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú X, thành phố H.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTpH; - VKSND khu vực 2 -H; - THADSTpH; - Các đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Ly |