- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Hà Công Tr và Hà Công T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia GT đường bộ và tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển p…"
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HSST Ngày 12/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Luận - Phó Trưởng ban Văn hóa, xã hội - HĐND xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ.
Bà Bùi Thị Khánh - Hiệu trưởng trường Tiểu học và THCS Quy Mỹ, xã Toàn Thắng, tỉnh Phú Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025 tại cơ sở 2, Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST - HS ngày 27 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ HÀ CÔNG TR - sinh ngày 27/10/2007; nơi sinh: T, Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm B, xã V, tỉnh Phú Thọ); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Công L, sinh năm 1984 và bà Bùi Thị B (đã chết); Vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2025 đến nay
- có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Công Tr: Ông Đàm Văn V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 3, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.
2/ HÀ CÔNG T - sinh ngày 17/01/1991; nơi sinh: T, Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm B, xã V, tỉnh Phú Thọ); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Công L1, sinh năm 1968 và bà Hà Thị Ạ, sinh năm 1966. Có vợ là Hà Thị C, sinh năm 1992, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2025 đến nay
- có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Công T: Ông Đàm Văn V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 3, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.
- Bị hại: Cháu Bùi Yến N, sinh năm 2012 (đã chết)
Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình, (nay là xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ)
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Bùi Yến N: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1987 (bố đẻ của bị hại) - Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ).
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH du lịch và vận tải Long Giang- chi nhánh Điện Biên, người đại diện theo pháp luật: Anh Đặng Quang H - Giám đốc; Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lục Minh G, sinh năm 1995. Địa chỉ: C17, xã T, huyện Đ, tỉnh Điên Biên - Vắng mặt có lý do.
+ Anh Phạm Xuân H, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ 3, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên - Vắng mặt có lý do.
+ Anh Phạm Đức T, sinh năm 1983, địa chỉ: Tiểu khu cấp 3, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La - Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 03/12/2024 Hà Công T, sinh năm 1991 đến nhà Hà Công Tr, sinh ngày 27/10/2007 là em họ rủ đi xuống nhà em gái ruột là Hà Thị T ở xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình để ăn mừng nhà mới, tại nhà chị T thì T cùng Tr và mọi người ăn tối từ lúc 18 giờ. Khoảng 21 giờ cùng ngày sau khi ăn xong thì Tr ra ngồi uống nước thì cháu Bùi Yến N sinh năm 2012 là con gái chị T rủ Tr sang nhà bạn của N chơi nên cả hai đi bộ sang nhà bạn N chơi, đến 21 giờ 15 phút thì Tr rủ cháu N đi chơi N đồng ý, Trường đến chỗ T đang ngồi uống nước hỏi mượn xe mô tô của T để chở N đi chơi. Mặc dù T biết rõ Tr vừa uống rượu xong và chưa đủ 18 tuổi chưa có giấy phép lái xe nhưng do Tr hỏi mượn 2 - 3 lần thì T đồng ý đưa chìa khóa cho Tr. Có chìa khóa xe thì Tr điều khiển xe mô tô BKS 28E1-183.10 chở N đi ra ngã ba chợ Lồ, xã Phong Phú rồi rẽ phải đi trên Quốc lộ 6 hướng ra thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc. Đi được khoảng 1km Tr thấy Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ nên quay xe lại đi theo hướng lên Đèo đá trắng xã Phú Cường, huyện Tân Lạc khi đi đến Km110+32m, Quốc lộ 6 Tr nhìn thấy có 01 xe ô tô khách biển số 27F-000.61 do anh Phạm Xuân H ở tổ 3, phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên di chuyển phía trước hướng Hà Nội - Sơn La, Tr điều khiển sang bên trái để vượt ô tô khách, khi xe vượt đến khoảng giữa thân xe ô tô thì phát hiện phía trước ngược chiều có xe ô tô tải đầu kéo biển số 26H-001.41 kéo rơ mooc biển số 26R-006.88 do anh Phạm Đức Tr, sinh năm 1983, ở Tiểu khu cấp 3, thị trấn Nông trường Mộc Châu, Sơn La điều khiển đi đến, Tr đạp phanh và bóp phanh trái xe môt tô do xe đi nhanh nên xe mô tô rung lắc và va chạm với sườn xe ô tô đầu kéo làm cho xe mô tô bị đổ nghiêng sang phải làm Tr và N cùng ngã văng xuống lòng đường N bị bánh xe phía sau bên trái của xe khách 27F-000.61 chèn qua người gây tử vong. Tr bị gẫy tay được đưa đi cấp cứu và điều trị.
Quá trình điều tra đã thu giữ tài sản, đồ vật, tài liệu sau:
- Thu giữ của Phạm Xuân H: 01 xe ô tô biển kiểm soát 27F-000.61; 01 GPLX mang tên Phạm Xuân H; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật xe cơ giới của xe ô tô 27F-000.61; 01 bảo hiểm tự nguyện tên chủ xe Công ty TNHH Long Giang tỉnh Điện Biên; 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh huyện Điện Biên.
- Thu giữ của Phạm Đức T: 01 xe ô tô biển số 26H- 001.41; 01 rơ mooc biển số 26R - 006.88 nhãn hiệu DOOSUNG; 01 GPLA mang tên Phạm Đức T; 01 CCCD mang tên Phạm Đức T; 01 GCN đăng ký xe ô tô tên chủ xe Phạm Văn H biển số 26H-001.41; 01 chứng nhận đăng ký rơ mooc mang tên Phạm Văn H; 01 GCN kiểm định an toàn kỹ thuật xe 26H-001.41; 01 GCN kiểm định an toàn kỹ thuật xe rơ mooc 26R-006.88; 01 bản phô tô GCN bản hiểm xe ô tô 26H-001.41.
- Thu giữ của Hà Công T: 01 xe mô tô biển số 28E1-183.10 nhãn hiệu Honda; 01 GCN đăng ký xe mô tô mang tên Hà Công T, biển số 28E1-183.10.
Ngày 13/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình và ngày 17/6/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình đã xử lý trả lại tất cả tài sản, đồ vật, tài liệu nêu trên cho các chủ sở hữu.
Khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km110+32m, Quốc lộ 6 thuộc địa phận xóm Trọng Phú, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình: Vết cà trượt kéo dai, vết dầu loang, rê trượt, vị trí xe mô tô biển số 28E1-183.10 ngã đổ; vị trí nạn nhân Bùi Yến N nằm ngã, vị trí xe ô tô khách biển số 27F-000.61 dừng đỗ, vết trượt phanh kéo dài, vị trí ô tô đầu kéo biển số 26H-001.41 kéo rơ mooc biển số 26R-006.88 dừng đỗ, vết máu và tổ chức cơ thể người. Hướng đường chuẩn khi khám nghiệm là hướng Hà Nội -Sơn La, đoạn đường cong cua về bên phải, mặt đường bê tông nhựa rộng 6,75m phân chia thành 2 chiều đường bằng dải phân cách vạch kẻ sơn đưuts khúc màu vàng. Xác định điểm A là điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô 28E1-183.10 với xe đầu kéo 26H-001.41 theo rơ mooc tương ứng xuống mặt đường. Điểm A nằm trên phần đường bên trái hướng Hà Nội - Sơn La cách mép đường chuẩn là 4,60m, đến đầu vết số 1 là 5,10m, đến mốc chuẩn là 27,40m. Vị trí vết máu của nạn nhân ở bên phải đường hướng Hà Nội - Sơn La cách mép đường chuẩn là 1,25m.
Kết quả trưng cầu giám định:
Tại bản kết luận giám định tử thi số 652/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 11/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận tử thi Bùi Yến N: Nạn nhân bị chấn thương vùng đầu, mặt, cổ, mỏm vai, lưng, khung chậu, mông, tay, chân do tác động va đập, đè ép với vật tày rắn gây nên các tổn thương vớ hộp sọ, xương trán, xương sống mũi, gò má, xương hàm, gãy xương đùi, vỡ khung xương chậu, mặt biến dạng và nhiều vết xây sát rách da, bầm tím để lộ tổ chức gân, cơ, xương trên cơ thể. Kết luận nạn nhân chết do đa chấn thương.
- Tại Bản kết luận giám định số 9436/KL-KTHS, ngày 06/12/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Bùi Yến N gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn)”.
- Tại Bản kết luận giám định số 9435/KL-KTHS, ngày 31/12/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Bùi Yến N gửi giám định”.
- Tại Bản kết luận giám định số 9437/KL-KTHS, ngày 09/12/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của Hà Công Tr, (sinh ngày 27/10/2007, trú tại xóm B, xã V, huyện Tân L, tỉnh Hòa Bình) gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn), nồng độ ethanol 100mg/100ml máu”.
- Tại Bản kết luận giám định số 9433/KL-KTHS, ngày 31/12/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Hà Công Tr gửi giám định”.
- Tại Bản kết luận giám định số 9443/KL-KTHS, ngày 31/12/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận đối với các mẫu M1 (thu tại vị trí thụt sau, trước lốp xe bên trái của xe ô tô biển số 27F-000.61), M2 (thu tại vị trí thụt sau, sau lốp xe bên trái của xe ô tô biển số 27F-000.61):
“1.Các mẫu tạp chất ký hiệu M1 và M2 đều là máu người và đều là máu của tử thi Bùi Yến N
2. Lưu kiểu gen (ADN) của tử thi Bùi Yến N tại Viện khoa học hình sự-Bộ Công an”.
Khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 28E1- 183.10: Càng xe cong vênh sang trái, biến dạng diện 40 x 60cm. Cánh yếm vỡ mất miếng rời ra ngoài kích thước 21x11cm, cần số cong vênh biến dạng từ trước ra sau, báng để chân sau bung mấu mắt bên trái, chân phanh có vết trượt xước kích thước 2cm. Để chân trước bên phải bung rời ốp cao su bám dính tạp chất trắng diện 1,5cm, ốp ống bô có vết xước kim loại, bám dính tạp chất màu trắng diện 11 x 6cm.Tay phanh trước cong biến dạng, đèn tín hiệu phải và phần nhựa xung quanh có các vết trượt xước, tay phanh biến dạng cong vênh. Kết quả định giá xe mô tô
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐ ĐGTS, ngày 08/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình kết luận giá trị thiệt hại các phụ tùng phải sửa chữa, thay thế của xe mô tô biển số 28E1-183.10 sau tai nạn, thời điểm tháng 3 năm 2025 là 2.190.000đ (Hai triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 50/CT- VKS - P2 ngày 26/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình truy tố Hà Công Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015; Cáo trạng truy tố Hà Công T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện VKS đã rút tình tiết phạm tội đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS theo Cáo trạng số 50/CT- VKS
- P2 ngày 26/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình đối với bị cáo Hà Công Tr.
Tại cơ quan điều tra cả hai bị cáo Tr và T đã thành khẩn khai báo toàn bộ qúa trình phạm tội. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tr đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình ngày 03/12/2025 bản thân không có giấy phép lái xe, sau khi ăn cơm uống rượu nhà anh T mừng nhà mới Tr đã mượn xe mô tô biển số 28E1-183.10 của anh họ là Hà Công T là bị cáo trong cùng vụ án chìa khóa xe mô tô để chở cháu N đi chơi. Khi đi đến Km110+32m trên Quốc lộ 6 thuộc xóm Trọng Phú, xã Phong Phú huyện Tân Lạc Tr thấy có 01 xe ô tô khách biển số 27F-000.61 do anh Phạm Xuân H điều khiển đang di chuyển phía trước cùng chiều hướng Hà Nội - Sơn La, Trường điều khiển xe mô tô đi sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô khách. Khi xe mô tô vượt đến khoảng giữa thân xe ô tô khách, Tr phát hiện phía trước hướng ngược chiều có xe ô tô tải đầu kéo biển số 26H-001.41 kéo theo rơ mooc biển số 26R-006.88 do anh Phạm Đức T điều khiển đang đi đến, Tr đạp phanh đồng thời dùng tay trái bóp phanh bánh trước của xe mô tô, do xe đi nhanh nên xe mô tô bị rung lắc và va chạm với phần sườn xe ô tô tải đầu kéo biển số 26H-001.41 kéo theo rơ mooc đi ngược chiều, làm cho xe mô tô bị đổ nghiêng sang phải cả Tr và cháu N cùng ngã văng xuống lòng đường, ngay lúc đó cháu N bị bánh xe phía sau bên trái của xe ô tô khách biển số 27F-000.61 chèn qua người gây tử vong tại chỗ. Bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo, bị cáo không kêu oan, bị cáo đang là trẻ vị thành niên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Hà Công T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi cho bị cáo Tr mượn xe mô tô, bản thân nhận thức được rõ Tr không có giấy phép lãi xe và đã uống rượu tại nhà anh T cùng mình. T thừa nhận hành vi cho Tr mượn xe là vi phạm pháp luật và không ngờ hậu quả xảy ra lại nghiêm trọng làm mất đi đứa cháu Bùi Yến N là con đẻ của em gái T. Bị cáo T thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo, bị cáo không kêu oan. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cả bị cáo Tr vì từ hành vi giao xe của bị cáo mà dẫn đến hậu quả đau lòng cho cả 2 bị cáo và gia đình cháu N vì đều có mối quan hệ họ hàng ruột thịt.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra anh Hà Công L đại diệp hợp pháp cho bị cáo Hà Công Tr đã bồi thường tiền mai táng phí, tồn thất tinh thần cho gia đình bị hại Bùi Yến N số tiền 70.000.000đồng. Bị cáo Hà Công T bồi thường số tiền 20.000.000đồng. Ngoài ra đại diện công ty TNHH Long Giang cũng hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đồng, anh Phạm Đức H là chủ xe ô tô đầu kéo hỗ trợ gia đình bị hại 10.000.000đồng. Gia đình bị hại đại diện hợp pháp là anh Bùi Văn T là bố đẻ cháu N đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả bị cáo Tr và T, nhất là bị cáo Tr đang còn trẻ chưa đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa anh T đã xác nhận nhận được đầy đủ số tiền mà các bị cáo và những người liên quan hỗ trợ, bồi thường dân sự cho gia đình và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa phân tích lời khai của các bị cáo Tr và T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại. Lời khai nhận của các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo Tr thừa nhận không có giấy phép lái xe, đã sử dụng rượu nhưng vẫn mượn xe mô tô của bị cáo T để tham gia giao thông. Như vậy bị cáo đã thừa nhận hành vi như Cáo trạng truy tố. Về trách nhiệm dân sự bị cáo và gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Bùi Yến N số tiền 70.000.000đồng. Bị cáo T cũng thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 20.000.000đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại N có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo, tại phiên tòa tiếp tục xin cho các bị cáo được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt để các bị cáo có cơ hội lao động cải tạo. Bị cáo Tr là trẻ vị thành niên, khi phạm tôi mới 17 tuổi 1 tháng 6 ngày đến nay chưa đủ 18 tuổi, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1, 6 Điều 91, Điều 98; Khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Tr từ 18 đến 24 tháng tù. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo T từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng: Chiếc xe mô tô BKS 28E1-83.10 đã trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Hà Công T, xe bị hỏng hóc phải sửa chữa nhưng bị cáo T không yêu cầu bị cáo Tr phải bồi thường thiệt hại. 01 xe ô tô khách và 01 xe tải và đầu kéo rơ mooc và giấy tờ kèm theo đã được trả lại cho chủ sở hữu. Không ai có đề nghị gì nên không xem xét. Về án phí các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo Hà Công Tr và Hà Công T:
Nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo Tr và bị cáo T. Cả hai bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo Tr và T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả, cả 2 bị cáo có nhân thân tốt là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo Tr là trẻ vị thành niên nhận thức pháp luật chưa đầy đủ; khi mượn xe bị cáo T do chủ quan nên vô ý phạm tội. Các bị cáo và bị hại đều có mối quan hệ hàng hàng thân thuộc nên đã cùng nhau chung tay chăm lo an táng cho bị hại. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tha thiết xin cho cả hai bị cáo. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a, b khoản 2, Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Hà Công Tr được hưởng mức hình phạt mức thấp nhất dưới khung hình phạt theo luận tội của Viện Kiểm sát là 18 tháng tù cũng là bài học lớn đối với bị cáo. Đối với bị cáo T là người đã trưởng thành, đã có giấy phép lái xe mô tô nhưng do nể nang vì Tr là em họ hỏi mượn chìa khóa xe nhiều lần T mới đồng ý giao chìa khóa mặc dù biết rõ Tr không có giấy phép lái xe và đã sử dụng rượu bia khi ăn cơm cùng tại nhà bị hại. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 264, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo T mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là 12 tháng cải tạo không giam giữ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả 2 bị cáo là hợp tình hợp lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét bị cáo Hà Công Tr là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 03/12/2024 bản thân không có giấy phép lái xe, đã sử dụng rượu khi ăn cơm tại nhà anh T nhưng đã mượn xe mô tô của bị cáo Hà Công T là anh trai họ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28E1-183.10 chở cháu Bùi Yến i, sinh năm 2012 đi ra đường Quốc lộ 6 theo hướng Hà Nội - Sơn La, trên đường đi đến Km110 + 32m thuộc địa phận xóm Trọng Phú, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ) đây là đoạn đường vòng cua về bên phải, tầm nhìn bị hạn chế Tr đã tăng ga và điều khiển sang bên trái xe ô tô khách để vượt đến đoạn giữa thân xe khách thì Tr phát hiện phía trước có 01 xe ô tô đầu kéo hướng ngược chiều đi tới, lúc này Tr đạp phanh và bóp phanh tay nhưng do đi tốc độ cao nên xe mô tô rung lắc và va chạm với sườn xe ô tô tải ngược chiều nên xe mô tô bị đổ nghiêng sang phải làm cả hai ngã văng xuống đường, hậu quả bánh xe sau bên trái chèn qua làm cháu Bùi Yến N tử vong tại chỗ, Tr bị thương gẫy tay và đi điều trị tại bệnh viện. Hà Công Tr đã vi phạm vào khoản 8 (đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 1 Điều 35 của Luật phòng chống tác hại của rượu bia) và khoản 9 Điều 8; khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ. Như vậy hành vi của bị cáo Hà Công Tr đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ với hậu quả 01 người chết, trong máu có nồng độ cồn là 100mg/100ml máu, bị cáo không có giấy phép lái xe cấu thành tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 BLHS.
Xét bị cáo Hà Công T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28E1-183.10 ngày 03/12/2024 sau khi ăn cơm uống rượu mừng nhà mới tại nhà cháu N bị cáo đã có hành vi giao xe cho bị cáo Tr là người mà bị cáo T biết rõ là không có giấy phép lái xe, khi cùng ăn cơm T biết rõ Tr có sử dụng rượu bia nhưng vẫn giao xe cho Tr mượn xe, hành vi được thực hiện với lỗi vô ý do T nhận thức được Tr là người được giao xe để đi chơi không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả xảy ra 1 người chết. Hành vi nêu trên đã cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 BLHS.
Hành vi của cả hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của anh cháu Bùi Yến N. Vì vậy phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo Tr và bị cáo T đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
.Về nhân thân: Bị cáo Tr, bị cáo T không có tiền án, tiền sự.
.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tr và T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Trong quá trình điều tra cả hai bị cáo đều đã tích cực bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho bị hại Bùi Yến N tổng cộng là 90.000.000đồng gồm tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại Bùi Yến N đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tr và bị cáo T, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất, ở nhà lao động kiếm sống để trả nợ số tiền đã bồi thường. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 54 BLHS quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Tr, HĐXX nhận thấy bị cáo Tr là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù không có giấy phép lái xe và đã sử dụng rượu bia nhưng vẫn điều khiển xe mô tô gây ra hậu quả rất nghiêm trọng làm 1 người chết, gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ, xét đặc điểm nhân thân của bị cáo là quần chúng ưu tú hoạt động Đoàn thanh niên nhiệt tình, có trách nhiệm đang ở độ tuổi vị thành niên nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên có căn cứ áp dụng điều luật dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS xem xét áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt theo khoản 2 Điều 260 BLHS đảm bảo nghiêm minh có tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Khi lượng hình Tòa xét: Bị cáo Tr là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, mẹ chết do bệnh tật, khi phạm tội và đến ngày xét xử chưa đủ tuổi trưởng thành, chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên toà có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo và bị hại có mối quan hệ họ hàng. Sau tai nạn đã cùng gia đình chăm lo và bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại N. Gia đình bị hại N đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với bị cáo T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có mối quan hệ là bác ruột với bị hại, tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường cho bị hại. Đã nhận thức đầy đủ hành vi của mình đã gián tiếp gây ra cái chết của cháu ruột và không mong muốn hậu quả xảy ra nên cần xem xét cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội.
Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần có hình phạt xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên với đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên cần cho bị cáo Tr hưởng hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt khoản 2 Điều 260 BLHS để bị cáo hưởng khoan hồng của pháp luật, có điều kiện cải tạo tốt trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Hà Công T hành vi giao xe cho bị cáo Tr cấu thành tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, nên cần xem xét cho bị cáo mức hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Đây cũng là bài học cho bị cáo nhận thức được trách nhiệm của bản thân khi tham gia giao thông cần tuân thủ đúng Luật giao thông đường bộ và các hành vi khác bị cấm khi tham gia giao thông.
Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Tr chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 91 BLHS. Đối với bị cáo T xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và điều kiện bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 264 BLHS đối với bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
. Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bị cáo và gia đình bị hại Bùi Yến N đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự, khắc phục hậu quả tổng số tiền 90.000.000đồng, bị cáo Tr đã bồi thường 70.000.000đồng; bị cáo T đã bồi thường 20.000.000đồng. Những người liên quan là chủ 2 xe ô tô khách và ô tô tải đã hỗ trợ mai táng phí và tổn thất tinh thần tổng cộng là 30.000.000đồng. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường nên Hội đồng xét xử công nhận.
Về vật chứng của vụ án đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình đã trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét.
. Xét về Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã áp dụng các quy định của pháp luật hình sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự; Các bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định này. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố Hà Công Tr và Hà Công T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 50/CT- VKS-P2 ngày 26/6/2025 là có căn cứ đúng pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Hà Công Tr và bị cáo Hà Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Điều luật áp dụng:
- Đối với bị cáo Hà Công Tr: Căn cứ Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54, khoản 1, 6 Điều 91; Điều 98 của Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
- Đối với bị cáo Hà Công T: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh và mức hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Hà Công Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Hà Công Tr 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Tuyên bố bị cáo Hà Công T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt bị cáo Hà Công T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho UBND xã V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Bị cáo phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người bị phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100, Điều 101 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập.
3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của đại diện hợp pháp cho bị cáo Hà Công Tr và đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Yến N bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 70.000.000đ (Bẩy mươi triệu đồng chẵn). Xác nhận đã bồi thường xong cho gia đình bị hại N số tiền 70.000.000đ (Bẩy mươi triệu đồng chẵn). Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Hà Công T và đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Yến N bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng chẵn). Xác nhận đã bồi thường xong cho gia đình bị hại N số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng chẵn). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã hỗ trợ mai táng phí cho gia đình bị hại tổng cộng là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
4. Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình đã trả lại: 01 xe ô tô biển kiểm soát 27F-000.61 và các giấy tờ kèm theo cho anh Phạm Xuân H; 01 xe ô tô biển số 26H- 001.41; 01 rơ mooc biển số 26R - 006.88 nhãn hiệu DOOSUNG và giấy tờ kèm theo cho anh Phạm Đức T; 01 xe mô tô biển số 28E1-183.10 nhãn hiệu Honda và giấy tời kèm theo cho bị cáo Hà Công T.
5. Án phí: Các bị cáo Hà Công Tr, Hà Công T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 15; - Phòng THA dân sự tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; Đại diện hợp pháp của Bị hại; Người có quyền lợi và NV liên quan - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên, đóng dấu) Hà Thị Yến |