vanban.org

Bản án 02/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (25/3/2025). Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,09 gam Heorine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon mà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B
Bản án số: 02/2025/HSST
Ngày: 14 - 7 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – B, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Duy Tuấn

2. Bà Đỗ Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- B, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- B tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - B, tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn T; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác;

Sinh ngày: 06 tháng 7 năm 1989, tại tỉnh B.

Nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản N, xã N, thành phố Đ (Nay là xã N), tỉnh B.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12 phổ thông; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn P và bà: Quàng Thị L (Lường Thị L) (Đã chết); Có vợ: Lò Thị B (đã ly hôn năm 2012); Năm 2013, chung sống như vợ chồng với chị Cà Thị P; Năm 2021 đến nay, chung sống như vợ chồng với chị Lường Thị P; Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/9/2014 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện M, tỉnh B xét xử và xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 05/02/2021, bị cáo chấp hành xong toàn bộ Bản án, đến lần phạm tội này, bị cáo được coi là đương nhiên được xoá án tích. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 25/03/2025, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/3/2025, bị cáo Lường Văn T đi bộ từ bản C, xã M, thành phố Đ đến khu vực cánh đồng bản Yên 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh B thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma tuý có đặc điểm được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng, bên trong có các cục chất bột màu trắng đục, với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về. Hồi 18 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang đi bộ tại bản Yên 1 thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Bị cáo khai đó là ma túy, loại Heroine, bị cáo mua với mục đích để bản thân sử dụng.

Tại biên bản làm việc về nội dung mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma tuý và niêm phong lại đồ vật hồi 22 giờ 20 phút, ngày 25/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và kết luận giám định số: 229/KL-KTHS ngày 28/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu các cục chất bột màu trắng đục, thu giữ của Lường Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng: 0,16 gam.

Tại bản cáo trạng số: 70/CT-VKS-TPĐBP ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lường Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ (Nay là viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – B) giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lường Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu hồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lường Văn T không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ ( Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- B).

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 18 giờ ngày 25/03/2025, tại khu vực bản Yên 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh B, Lường Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,16 gam Heroine trên người, mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 10 phút ngày 25/3/2025, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản làm việc về nội dung mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma tuý và niêm phong lại đồ vật hồi 22 giờ 20 phút, ngày 25/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và kết luận giám định số: 229/KL-KTHS ngày 28/3/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B.

Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine, với mục đích để sử dụng của bị cáo Lường Văn T là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng (Được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất), nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS. Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 12/9/2014 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện M xét xử và xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 05/02/2021, bị cáo chấp hành xong toàn bộ Bản án, nên bị cáo đương nhiên được xoá án tích.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo là người sử dụng ma túy, nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ (Nay là viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – B), kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Vật chứng: Đối với 0,09 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu hồng, là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/BLHS.

- Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (25/3/2025).

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,09 gam Heorine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu hồng, (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/7/2025).

Cỡ chữ