vanban.org

Bản án 02/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: S 30 tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/10/2024 đến ngày 18/10/2024.

Vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 ba lô màu đen, có 02 dây đeo, mặt trước có lô gô “Mitai” (đã qua sử dụng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hs - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: S 30 tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/10/2024 đến ngày 18/10/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊNTHÀNH
TỈNH NGHỆ AN
––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HSST
Ngày 21/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Ngô Trọng Thế.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thắm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/HSST, ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

S, sinh ngày 11/11/2002 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Tây Hồ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Z và bà A; Vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: không; tạm giữ: từ ngày 09/10/2024 đến ngày 18/10/2024. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: D, sinh năm 1995 (có mặt).

Nơi cư trú: xóm Đông Thịnh, xã Giang Sơn Đông, huyện Đô Lương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) Anh f, sinh năm 2007 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Tân Triều, xã Tân Thành, huyện Yên Thành.

2) Anh M, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Nhân Sơn, xã Quang Thành, huyện Yên Thành.

3) Chị L, sinh năm 2004 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Nhân Sơn, xã Quang Thành, huyện Yên Thành.

4) Anh Ư, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm 8, xã Xuân Thành, huyện Yên Thành.

5) Anh U, sinh năm 2001 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Minh Châu, xã Nam Thành, huyện Yên Thành.

6) Chị B, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Tây Hồ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành.

7) Anh F, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Tân Triều, xã Tân Thành, huyện Yên Thành.

8) Chị C, sinh năm 2006 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xóm Đồng Luốc, xã Kim Thành, huyện Yên Thành.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 01/9/2024, S được V, sinh năm 1995, trú tại xóm Đông Thịnh, xã Giang Sơn Đông, huyện Đô Lương thuê làm thợ sửa chữa điện thoại đồng thời giao toàn bộ chìa khoá cửa hàng, chìa khoá tủ chứa điện thoại cho S quản lý, trông coi tại cửa hàng điện thoại Đắc Linh Mobile thuộc xóm Quang Long, xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An do d làm chủ. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, S nảy sinh ý định chiếm đoạt những chiếc điện thoại tại cửa hàng này để bán lấy tiền.

Vào khoảng 07 giờ ngày 06/10/2024, chỉ có một mình S tại cửa hàng, S lấy 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu vàng để trên giá đựng phụ kiện điện thoại trong cửa hàng bỏ vào túi quần rồi đi đến quán bi-a Gấu Billiards tại xã Tây Thành, huyện Yên Thành để chơi. Tại đây, S gặp Lưu Xuân Bắc, sinh năm 2007, trú tại xóm Tân Triều, xã Tân Thành, huyện Yên Thành. S nói với Lưu Xuân Bắc: “đi cắm điện thoại giúp anh cái”, Bắc đồng ý. Bắc cầm chiếc điện thoại rồi đi đến cửa hàng điện thoại Văn Quyết Mobile thuộc xóm Ân Quang, xã Tây Thành, huyện Yên Thành do anh M, sinh năm 1991, trú tại xóm Ân Quang, xã Tây Thành, huyện Yên Thành làm chủ cầm cố với số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng) rồi chuyển tiền đến số tài khoản Ngân hàng Techcombank 19073017957013, mang tên L, sinh năm 2004, trú tại xóm Nhân Sơn, xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghê An (đây là tài khoản ngân hàng Bắc nhờ chị Giang đăng ký hộ để sử dụng). Sau khi về quán bi a Gấu Billiards, Lưu Xuân Bắc chuyển khoản cho S số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng TP bank có số tài khoản 00006064602, mang tên Ư, sinh năm 2002, trú tại xóm Nam Phượng Sơn, xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (đây là tài khoản ngân hàng S sử dụng Căn cước công dân của anh Nhật để đăng ký tài khoản qua mạng). S tiếp tục chơi bi-a đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì đi về cửa hàng làm việc. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, S nói với Lưu Xuân Bắc đến cửa hàng Văn Quyết mobile cầm cố chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro trước đó lấy thêm tiền. Sau đó, Lưu Xuân Bắc bán chiếc máy điện thoại trên cho cửa hàng Văn Quyết lấy thêm số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, do chưa gặp lại S nên Lưu Xuân Bắc chưa đưa số tiền này cho Hà.

Khoảng hơn 02 giờ ngày 07/10/2024, S rút phích cắm điện của camera giám sát bên trong cửa hàng rồi sập cầu dao attomat để không bị camera ghi lại hình ảnh S lấy tài sản. S sử dụng chiếc ba lô đựng đồ màu đen của mình, đi đến tủ trưng bày điện thoại, lấy chìa khoá mở cửa tủ và lấy 12 (mười hai) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, gồm nhiều loại và nhiều màu khác nhau để vào balo. Sau khi lấy được điện thoại, S tiếp tục lấy 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) trong chiếc ví màu đỏ đựng tiền của cửa hàng để phía dưới kệ sát tủ trưng bày. S lấy trong ba lô ra 01 (một) chiếc Iphone 12 Promax, màu vàng bỏ vào túi quần mục đích để sử dụng. Do trước đó, Hà nhắn tin cho U, sinh năm 2001, trú tại xóm Minh Châu, xã Nam Thành, huyện Yên Thành và nói dối Hà đang đi từ Hà Nội về xã Quang Thành và nhờ Hiếu 02 giờ ngày 07/10/2024 đến xã Quang Thành đón Hà vì Hà không có xe nên Hiếu đồng ý. Đến khoảng gần 03 giờ cùng ngày, U, đến cửa hàng Đắc Linh Mobile để đón Hà. S cầm ba lô chứa số điện thoại đi ra ngoài, khóa cửa lại và bỏ chìa khóa ở dưới chân biển quảng cáo của cửa hàng. Anh U sử dụng xe máy điện chở S đi về nhà Nguyễn Hiếu để ngủ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, S đưa cho U chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu vàng mà Hà lấy được ở cửa hàng điện thoại và nói chiếc điện thoại này là của Hà rồi nhờ U đi bán. Hiếu cầm chiếc điện thoại đi đến cửa hàng điện thoại di động Thọ Tâm Mobile, thuộc xóm Phú Sơn, xã Nam Thành, huyện Yên Thành bán cho anh B, sinh năm 1993, trú tại xóm Tây Hồ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành (là chủ cửa hàng điện thoại) với số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng) rồi quay về đưa lại toàn bộ số tiền này cho Hà.

Khoảng 8 giờ ngày 7/10/2024, d đã liên lạc và yêu cầu Hà đưa số điện thoại đã chiếm đoạt đến cửa hàng điện thoại Hiếu Mobile tại thị trấn Yên Thành để trả lại cho anh Đắc. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, S nhờ Phạm Văn Phước, sinh năm 2002, trú tại xóm 6, xã Trung Thành chở Hà đưa 11 (mười một) chiếc điện thoại đã chiếm đoạt trước đó đến cửa hàng Hiếu Mobile tại thị trấn Yên Thành để trả cho anh Đắc. Sau đó, S đi xe khách Quốc Tuấn ra Hà Nội chơi. Số tiền có được từ việc cầm cố, bán điện thoại cùng số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), S đã sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân.

Ngày 7/10/2024, d đã đến Công an xã Quang Thành, huyện Yên Thành trình báo sự việc.

Đến ngày 9/10/2024, S đến Công an xã Quang Thành đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận định giá số 43/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thành xác định:

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 pro 128Gb, màu vàng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 06/10/2024 có giá trị: 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 promax 128Gb, màu vàng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 promax 128Gb, màu trắng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 8.000.000 đông (tám triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 pro 64Gb, màu đen, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone X 64 Gb, màu trắng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone XS 64 Gb, màu vàng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone XS 64 Gb, màu trắng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone X 64 Gb, màu trắng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 64 Gb, màu trắng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax 64 Gb, màu vàng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone XSmax 64 Gb, màu trắng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone XSmax 256 Gb, màu vàng, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Iphone XSmax 64 Gb, màu đen, máy đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/10/2024 có giá trị 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Như vậy, ngày 6/10/2024, S chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 12 pro 128Gb, màu vàng, đã qua sử dụng, có giá trị là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng); Ngày 7/10/2024, S chiếm đoạt 12 chiếc điện thoại di động Iphone gồm nhiều loại và nhiều màu khác nhau và số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) với tổng giá trị là 59.900.0000đ (năm mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng). Do đó, S phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 66.400.000đ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

Ngày 8/10/2024 và ngày 9/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã thu giữ:

- 13 chiếc điện thoại di động đều đã qua sử dụng của d gồm, 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 pro 128Gb, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 promax 128Gb, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 promax 128Gb, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 pro 64Gb, màu đen; 01 (một) điện thoại di động Iphone X 64 Gb, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Iphone XS 64 Gb, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động Iphone XS 64 Gb, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Iphone X 64 Gb, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 64 Gb, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax 64 Gb; 01 (một) điện thoại di động Iphone XSmax 64 Gb, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Iphone XSmax 256 Gb, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động Iphone XSmax 64 Gb, màu đen . Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số điện thoại này cho chủ sở hữu hợp pháp là d theo đúng quy định.

- 01 (một) ba lô màu đen, có 02 dây đeo, mặt trước có lô gô “Mitai”và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7, màu đen bạc, bên trong chứa sim số 0776893036, đã qua sử dụng của S. Số vật chứng này hiện đang được bản quản tại Kho vật chứng Công an huyện Yên Thành.

- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) do Lưu Xuân Bắc giao nộp. Hiện đang được tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Yên Thành.

*Về phần dân sự:

Bị hại d đã nhận lại toàn bộ điện thoại bị S chiếm đoạt và không yêu cầu S bồi thường số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng). Hiện d không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh B đã được S bồi thường số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Hiện không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự. Anh M đã được S bồi thường số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng) nên không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Cáo trạng số 02/CT-VKS-YT ngày 25/12/2024 của VKSND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố S về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- ¸p dụng: Điểm c khoản 2 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo S từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 ba lô màu đen, có 02 dây đeo, mặt trước có lô gô “Mitai” (đã qua sử dụng)

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo

Reno 7, màu đen bạc, bên trong chứa sim số 0776893036 (đã qua sử dụng).

- Trả lại cho anh M 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng)

- Buộc bị cáo S nộp số tiền 900.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, sung vào Ngân sách Nhà Nước.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí bản luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận gì thêm.

Bị hại nhất trí về tội danh, mức án và bồi thường như bản luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận gì thêm

Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lợi dụng việc được d giao quản lý tài sản cửa hàng điện thoại “Đắc Linh Mobile” tại xóm Quang Long, xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Vào ngày 6/10/2024 và ngày 7/10/2024 S đã hai lần lấy tổng số 13 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gồm nhiều loại và số tiền 900.000 đồng của d, với tổng giá trị tài sản là 66.400.000 đồng rồi bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đủ cơ sở xác định bị cáo đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị hại, giá trị 66.400.000 đồng.

Do đó, bị cáo đã phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giá trị 66.400.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, Bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân, chăm lo làm ăn mà bằng thủ đoạn lợi dụng sự tín nhiệm của chủ sở hữu giao quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, .

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, đầu thú.

Vì vậy khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập thấp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự:

Bị hại d đã nhận lại toàn bộ điện thoại và tự nguyện không yêu cầu bị cáo Hà bồi thường số tiền 900.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Hà đã trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh B

10.000.000 đồng và anh M 6.000.000 đồng. Anh Tâm, anh Quyết không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Yên Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã thu

giữ:

- 13 chiếc điện thoại di động đều đã qua sử dụng gồm, 01 điện thoại di động

Iphone 12 pro 128Gb, màu vàng; 01 điện thoại di động Iphone 12 promax 128Gb, màu vàng; 01 điện thoại di động Iphone 12 promax 128Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 11 pro 64Gb, màu đen; 01 điện thoại di động Iphone X 64 Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone XS 64 Gb, màu vàng; 01 điện thoại di động Iphone XS 64 Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone X 64 Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 11 64 Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 11 promax 64 Gb; 01 điện thoại di động Iphone XSmax 64 Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone XSmax 256 Gb, màu vàng và 01 điện thoại di động Iphone XSmax 64 Gb, màu đen . Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là d là có căn cứ, đúng pháp luật.

- 01 ba lô màu đen, có 02 dây đeo, mặt trước có lô gô “Mitai” ( đã qua sử

dụng) là công cụ phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7, màu đen bạc, bên trong chứa sim số 0776893036 (đã qua sử dụng) là phương tiện phạm tội, còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà Nước.

- 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng do Lưu Xuân Bắc giao nộp là tiền của anh M mua điện thoại nên cần trả lại cho anh M.

- Truy thu số tiền 900.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, sung vào Ngân sách Nhà Nước.

Anh Lưu Xuân Bắc và anh U là người được bị cáo Hà nhờ cầm cố, bán chiếc điện thoại di động do phạm tội mà có nhưng anh Bắc và anh Hiếu không biết nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Bắc, anh Hiếu là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Anh Nguyễn Văn Quyết, B là người nhận cầm cố, mua điện thoại di động do phạm tội mà có nhưng anh Quyết, anh Tâm không biết nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Quyết, anh Tâm là có căn cứ, đúng pháp luật.

Án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: S 30 tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/10/2024 đến ngày 18/10/2024.

- Vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 ba lô màu đen, có 02 dây đeo, mặt trước có lô gô “Mitai” (đã qua sử dụng)

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo

Reno 7, màu đen bạc, bên trong chứa sim số 0776893036 (đã qua sử dụng).

(Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý ngày 27/12/2024)

- Trả lại cho anh M 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng)

(Đã chuyển vào tài khoản số 39.490.104.774.600.000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành tại Kho bạc nhà nước Yên Thành ngày 25/12/2024) .

- Buộc bị cáo S nộp số tiền 900.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, sung vào Ngân sách Nhà Nước.

¬ Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc S phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

-Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ