vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 09/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04-10-2024. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Tùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày 09-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Giáo viên Trường Tiểu học Thuỷ Sơn

Ông Hoàng Đắc Hân

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 231/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn T, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2007, tại Sơn La. Nơi thường trú: Bản Mòn, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Thôn 8, xã Thuỷ Triều, huyện Thuỷ Nguyên (Nay là Thôn 8, phường Thuỷ Hà, thành phố Thuỷ Nguyên), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Hặc và bà Lường Thị Tươi; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 04-10-2024; tạm giam ngày 10-10-2024; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lò Văn Hặc, sinh năm 1973 và bà Lường Thị Tươi, sinh năm 1987 (là bố và mẹ của bị cáo); địa chỉ: Bản Mòn, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; đều vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Văn Bình - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tiến Nghĩa; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Minh Đức; vắng măt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 05 phút ngày 04-10-2024, tại Ký túc xá 2, dự án đảo Vũ Yên thuộc Thôn 8, xã Thuỷ Triều, huyện Thuỷ Nguyên (Nay là Thôn 8, phường Thuỷ Hà, thành phố Thuỷ Nguyên), thành phố Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an huyện Thủy Nguyên (Nay là Công an thành phố Thuỷ Nguyên), thành phố Hải Phòng kết hợp với Công an xã Thuỷ Triều, huyện Thuỷ Nguyên (Nay là Công an phường Thuỷ Hà, thành phố Thuỷ Nguyên), thành phố Hải Phòng kiểm tra, phát hiện Lò Văn T có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của Lò Văn T có 02 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma tuý). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Lò Văn T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 1179/KL-KTHS ngày 08-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: 02 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T là ma tuý, có khối lượng 0,24gam, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T khai nhận: Bản thân Tùng nghiện ma tuý heroine nên thường phải mua ma tuý để sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 04-10-2024, sau khi tan làm ở công trường dự án đảo Vũ Yên, Tùng đi về và vào khu vệ sinh Ký túc xá 2 thuộc dự án đảo Vũ Yên để tìm mua ma tuý heroine để sử dụng. Tại đây, Tùng gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi không quen biết, Tùng hỏi mua của người này 02 gói ma tuý heroine với giá 200.000 đồng (100.000 đồng/01 gói), người đàn ông nhận tiền và đưa cho Tùng 02 gói nilon màu xanh bên trong chứa ma tuý heroine. Mua được ma tuý, Tùng cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi về nơi ở để tìm chỗ sử dụng. Khi về đến nơi ở tại Ký túc xá 2 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ các vật chứng như nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 09-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên (Nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên), thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 1179MT/PC09 cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng bị cáo là người chưa thành niên (từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi) không có tài sản nên bố và mẹ của bị cáo phải nộp thay.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo bào chữa và tranh luận: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuỷ Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuỷ Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thàn phố Thuỷ Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Ngày 04-10-2024, tại Ký túc xá 2, dự án đảo Vũ Yên thuộc Thôn 8, phường Thuỷ Hà, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, Lò Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,24 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Khi phạm tội bị cáo mới 17 năm 02 tháng 06 ngày tuổi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với bị cáo chỉ phải chịu không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Đối với việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát. Căn cứ các mục [3] [7], [7.1] thấy rằng, yêu cầu của người bào chữa chưa phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 1179MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định là vật liên quan đến việc tàng trữ phép chất ma tuý, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 04-10-2024 tại khu vực Ký túc xá 2 thuộc dự án đảo Vũ Yên, tại Thôn 8, phường Thuỷ Hà, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không xác minh được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 586 Bộ luật Dân sự, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo là người chưa thành niên (từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi) phải dùng tài sản của mình để nộp, nếu không đủ tài sản để nộp thì cha, mẹ của bị cáo phải nộp phần còn thiếu nhưng do bị cáo không có tài sản nên ông Lò Văn Hặc và bà Lường Thị Tươi (là bố và mẹ của bị cáo) phải nộp thay.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04-10-2024.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 1179MT/PC09 cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-12-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuỷ Nguyên) và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên (Nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên).

Căn cứ vào Điều 586 Bộ luật Dân sự, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ông Lò Văn Hặc và bà Lường Thị Tươi (là bố và mẹ của bị cáo) phải nộp thay.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND TP. Hải Phòng;

- VKSND TP.Thuỷ Nguyên;

- Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;

- Công an TP. Hải Phòng (PV06, PC10);

- Cơ quan CSĐT Công an TP.Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHS Công an TP. Thuỷ Nguyên;

- Chi cục THADS TP.Thuỷ Nguyên;

Đinh Hữu Hường

- Trại giam Công an TP. Hải Phòng;

- Trại tạm giam Công an TP.Thuỷ Nguyên;

- Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo;

- Người bào chữa cho bị cáo;

- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương Hoàng Đắc Hân

Đinh Hữu Hường

Cỡ chữ