- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Thương - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 15-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thanh Giản
Bà Tạ Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1999 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ 01, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2024, đến ngày 15/10/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Tuấn A; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Duy Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên vào tối ngày 06/10/2024, Đỗ Văn T, thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường Mạc Quyết, tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng đi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận L, thành phố Hải Phòng để mua ma túy đá về sử dụng. Khi đến nơi, T bảo người xe ôm đứng ngoài chờ còn T đi bộ vào bên trong khu vực đường tàu, tại đây T mua 300.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết. Người này nhận tiền và đưa cho T 01 túi nilon bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng và một đoạn ống nhựa màu trắng. T biết là ma túy nên cất túi nilon chứa ma túy vào túi xách màu đen đeo bên người rồi đi bộ ra ngoài, lên xe của người lái xe ôm chở về khách sạn Zen tại số 146 Mạc Quyết, tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng. T đi lên phòng 709 của khách sạn Zen (đã thuê từ ngày 04/10/2024), lấy một ít ma túy vừa mua ra để sử dụng, phần còn lại T cất giấu trong túi xách màu đen để sau tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, Công an phường A tiến hành kiểm tra phòng 709 khách sạn Zen, phát hiện Đỗ Văn T cất giấu trong túi xách màu đen 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn T tại tổ 1, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy.
Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 08/10/2024, Đỗ Văn T dương tính với ma túy Methamphetamine và Cần sa.
Tại bản Kết luận giám định số 1191/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,33 gam, loại: Methamphetamine”
Tại cơ quan điều tra, Đỗ Văn T khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 1191MT/PC09 chứa ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói của mẫu vật và 01 đoạn ống nhựa, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận D quản lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với chủ khách sạn Zen, không biết việc T sử dụng ma túy tại phòng 709 nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSDK ngày 31/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận D đã truy tố Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đỗ Văn T với mức án từ 30 đến 36 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì số 1191MT/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định giám định, vỏ bao gói của mẫu vật và 01 đoạn ống nhựa. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với chủ khách sạn Zen, không biết việc T sử dụng ma túy tại phòng 709 nên Cơ quan điều tra không xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, tại phòng 709 khách sạn Zen ở số 146 đường Mạc Quyết, tổ dân phố P 1, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng, Đỗ Văn T bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 1,33 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi tệ nạn ma túy gây tác hại cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với một mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo, bắt cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy: Điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận D đang quản lý 01 phong bì niêm phong số 1191MT/PC09 chứa ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói của mẫu vật và 01 đoạn ống nhựa. Xét thấy, số vật chứng ma túy liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm lưu hành; vỏ bao gói và đoạn ống nhựa không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" .
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2024.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1191MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, bên trong là số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói của mẫu vật và 01 đoạn ống nhựa (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận D; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an Q.D; - Cơ quan THAHS quận D; - PV06; PC 10; - Chi cục THADS quận D; - Sở Tư pháp; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Tòa án TP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Dung |