vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Triệu Thị Th 30 (ba mươi) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 24/01/2025. Xử phạt bị cáo Phạm Văn  21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TriệuThị T- CĐB - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6- QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 16/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Anh

Ông Nguyễn Văn Quýnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vương Hải Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/Triệu Thị T (tên gọi khác: không); sinh ngày 02/4/1995, tại: Q, Thanh Hoá; nơi thường trú: phường M1 tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Văn Nguyên và bà Ngô Thị H; chồng: Vũ Duy Th, con: 04 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2022; tiền án; tiền sự: chưa; bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 24/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

2/Nguyễn Văn H (tên gọi khác: không); sinh ngày 25/01/1977, tại: Q, Quảng Ninh; nơi thường trú: phường M1, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Th và bố: không có; vợ: Vy Thị H, con: 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: chưa có; bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 24/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Móng Cái - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

3/Phạm Văn  (tên gọi khác: không); sinh ngày 03/8/1983, tại: H Hà, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu Ph, xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có; bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 24/01/2025, hiện tạm giam tại Phân trại tạm giam Móng Cái - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh

- Người chứng kiến: Anh Đặng Chí Thành - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2025, tại khu 1, phường Tr, thành phố M (nay là phường Móng Cái 1), tổ Công tác của Công an phường Hải Hòa phối hợp với Công an phường Trần Phú kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn  có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng. Thu giữ của Ân: 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, số IMEI 1: 865390052672184, số IMEI 2: 865390052672192, gắn sim số 0876.892.760; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba màu vàng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 11 giờ ngày 24/01/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Phạm Văn  gọi điện thoại từ số 0876.892.760 đến số 0989.371.810 của Nguyễn Văn H nhờ mua hộ 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ma túy “đá” và hứa sẽ cho H sử dụng cùng. H đồng ý rồi nhắn tin qua Messenger cho Triệu Thị Th hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) ma túy “đá”, nhưng Th báo giá 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) ma túy “đá”. H đồng ý và hẹn Th đến khu vực trước cửa khách sạn Majestic Móng Cái thuộc phường M1) để giao dịch. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H đến nơi hẹn gặp và mua được 01 (một) túi ma tuý “đá” của Th với giá 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) nhưng H chỉ trả cho Thắm 1.000.000đ (một triệu đồng) và nợ lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, H mang về cất giấu tại một bụi cỏ tại khu 4, phường H, thành phố M, rồi đi làm tại khu vực chợ Vinh Cơ phường M1, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày,  đến chỗ H làm, đưa H 01 triệu đồng. H đi lấy túi ma túy “đá” tại bụi cỏ, đưa cho  và hẹn đến tối cùng ngày sẽ cùng sử dụng với Â. Sau khi mua được ma túy,  cho túi ma tuý vào 01 vỏ bao thuốc lá, cất giấu vào túi quần bên phải của mình rồi đi về, khi đi đến khu vực ngã tư Đại lộ Hòa Bình - Trần Phú thuộc khu 1, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn H và Triệu Thị Th. Thu giữ của H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu vàng trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358611072997655, gắn sim 0989.371.810; thu giữ của Thắm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xám, đã qua sử dụng, số IMEI: 355660525807675, số IMEI 2: 355660525990109, gắn sim số 0794.116.602.

Tại Bản kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 28/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Văn Â, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,218gam (không phẩy hai một tám gam). Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Người chứng kiến anh Đặng Chí Th trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện như nội dung vụ án.

Bản cáo trạng số: 1447/CT-VKSMC ngày 22/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Quảng Ninh) đã truy tố bị cáo Phạm Văn  và Nguyễn Văn H, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); bị cáo Triệu Thị Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà: các bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Triệu Thị Th từ 27 (hai mươi bảy) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2025.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn  từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2025.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh, lắp sim thu giữ của Phạm Văn Â; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone, màu xám, lắp sim thu giữ của Triệu Thị Th; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone, màu vàng trắng, lắp sim thu giữ của Nguyễn Văn H.

+ Truy thu của bị cáo Thắm: số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).

+ Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) nắp chai nhựa màu vàng, có đục 02 lỗ, 01 lỗ lắp nõ thuỷ tinh, lỗ còn lại lắp 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 03 sim điện thoại.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Quảng Ninh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24/01/2025; các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người chứng kiến; Kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 28/01/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/01/2025, tại khu 1, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái (nay là phường Móng Cái 1), tỉnh Quảng Ninh, Triệu Thị Th có hành vi bán trái phép 0,218gam (không phẩy hai một tám gam) ma túy, loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn H. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H đưa số ma túy trên cho Phạm Văn hamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi mua ma tuý để sử dụng của các bị cáo Phạm Văn Â, Nguyễn Văn H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi bán trái phép chất ma tuý của bị cáo Thcho Hiếu nhằm mục đích kiến lời đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh) là có căn cứ pháp lý.

Xét tính chất, mức độ của hành vi là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì lợi nhuận và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

Về vai trò; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Xét vai trò của các bị cáo:

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: bị cáo  là người khởi xướng và bỏ tiền nhờ bị cáo H đi mua ma tuý, ngoài ra bị cáo H còn góp thêm tiền để mua ma tuý mục đích để cả hai cùng sử dụng, nên có vai trò ngang nhau.

Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”: bị cáo Th một mình thực hiện hành vi mua bán ma túy để kiếm lời nên Th sẽ độc lập chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý tài sản, vật chứng vụ án:

+ 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh, lắp sim thu giữ của Phạm Văn Â; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone, màu xám, lắp sim thu giữ của Triệu Thị Th; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone, màu vàng trắng, lắp sim thu giữ của Nguyễn Văn H là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, còn phôi sim không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

+Truy thu của bị cáo Th: số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có.

+ Toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) nắp chai nhựa màu vàng, có đục 02 lỗ, 01 lỗ lắp nõ thuỷ tinh, lỗ còn lại lắp 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 03 sim điện thoại gắn trong máy điện thoại của các bị cáo đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho Triệu Thị Thắm, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Triệu Thị Th 30 (ba mươi) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 24/01/2025.

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn  21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 24/01/2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 24/01/2025.

2. Về xử lý tài sản, vật chứng vụ án:

Căn cứ: khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh, lắp sim thu giữ của Phạm Văn Â; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone, màu xám, lắp sim thu giữ của Triệu Thị Th; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone, màu vàng trắng, lắp sim thu giữ của Nguyễn Văn H.

+ Truy thu của bị cáo Th: số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).

+ Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) nắp chai nhựa màu vàng, có đục 02 lỗ, 01 lỗ lắp nõ thuỷ tinh, lỗ còn lại lắp 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 03 sim điện thoại.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6- Quảng Ninh) quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 95/2025/THA, ngày 23/5/2025).

3. Về án phí:

Căn cứ: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Triệu Thị Th, Phạm Văn Â, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ: khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ninh; VKSND tỉnh Quảng Ninh;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND khu vực 6 - Quảng Ninh;

- Phân trại khu vực giam giữ Móng Cái- Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;

Đỗ Thị Thanh Huệ

- Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Ninh;

- Các bị cáo;

- Phòng HSNV PV06 Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Lưu: hồ sơ vụ án, VP. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ninh; VKSND tỉnh Quảng Ninh;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh

Đỗ Thị Thanh Huệ Quảng Ninh;

- Các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- Phòng HSNV PV06 Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Lưu: hồ sơ vụ án, VP. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND thành phố Móng Cái;

- Công an TpMóng Cái;

- Nhà tạm giữ Công an tp Móng Cái;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

Đỗ Thị Thanh Huệ

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Các bị cáo; -Người CQLNVLQ;

- Sở tư pháp;

- Lưu: HS, VP.

Cỡ chữ