- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Đức V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Lê Đức V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/4/2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 25-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Luân.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đinh Như Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình (cơ sở Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cũ) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Đức V, sinh năm 1991 tại tỉnh Hưng Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số X phố L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường V, thành phố Hà Nội); nơi ở hiện tại: Căn hộ N, chung cư M, phường H, quận M, thành phố Hà Nội (nay là phường H, thành phố Hà Nội); Căn cước công dân số: 033091004744; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Cao Th và bà Lê Thị Mai A; có vợ là Nguyễn Thị Thảo L, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2025 và bị tạm giam từ ngày 19/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 10/4/2025, tại quán cà phê L thuộc tổ dân phố Nhật Tựu, phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố Nhật Tựu, phường Kim Thanh, tỉnh Ninh Bình), Công an phường Đại Cương phối hợp với Công an phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng phát hiện Lê Đức V có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra Lê Đức V, lực lượng Công an thu giữ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc của V 01 túi nilon bên trong chứa 02 viên nén màu xanh và 01 mảnh viên nén màu xanh, V khai đều là ma túy cất giấu để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định, sau đó Công an phường Đại Cương đã bàn giao hồ sơ, vật chứng và người bị bắt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: Thu trong túi quần bên trái phía trước đang mặc của Lê Đức V 01 túi nilon bên trong chứa 02 viên nén màu xanh và 01 mảnh viên nén màu xanh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; tạm giữ của Việt 01 xe mô tô màu đen-nâu, nhãn hiệu Honda, BKS 29D2-607xx.
Tại bản Kết luận giám định số 3244/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, hàm lượng, khối lượng MDMA trong mẫu gửi giám định lần lượt là: 38,6%; 0,331 gam. Hàm lượng, khối lượng Ketamine trong mẫu gửi giám định lần lượt là: 4,1%; 0,035 gam”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lê Đức V đều khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 10/4/2025, Việt điều khiển xe mô tô BKS 29D2-607xx đi từ nhà đến Khu Công nghiệp Đồng Văn IV thuộc địa phận phường Đại Cương, thị xã Kim bảng, tỉnh Hà Nam để mua ma túy sử dụng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đến Khu Công nghiệp Đồng Văn IV, V thấy một người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người nhỏ, đeo khẩu trang, cao khoảng 170cm đang dừng xe mô tô ở ven đường (V không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, không nhớ biển số và nhãn hiệu xe mô tô). V tiến lại gần hỏi “Anh có chỗ nào mua kẹo không, mua giúp em ba viên”, ý V muốn hỏi mua 03 viên ma túy. Người đàn ông nói “Sáu trăm ba viên, đưa tiền đây”. V lấy ra số tiền 600.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đó cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông điều khiển xe mô tô quay lại đưa cho V 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu xanh, V biết đó là ma túy nên cầm cất vào túi quần bên trái phía trước. V điều khiển xe mô tô đi vào trong Khu Công nghiệp Đồng Văn IV, còn người đàn ông đi đâu không rõ. Khi đến đoạn đường vắng trong Khu Công nghiệp Đồng Văn IV, V dừng xe rồi lấy 01 viên nén màu xanh trong túi nilon mua của người đàn ông ra rồi sử dụng ½ viên nén bằng hình thức uống. Sau đó, V cất ½ viên còn lại vào túi nilon rồi điều khiển xe mô tô đến quán cà phê L thuộc tổ dân phố Nhật Tựu, phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam gọi đồ uống. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi V đang ngồi đợi đồ uống thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKSKB ngày 12/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình) đã truy tố bị cáo Lê Đức V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói mẫu vật; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 29D2-607xx.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức V khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Lê Đức V tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 19 giờ ngày 10/4/2025, tại quán cà phê thuộc tổ dân phố Nhật Tựu, phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố Nhật Tựu, phường Kim Thanh, tỉnh Ninh Bình), bị cáo Lê Đức V đang cất giấu trái phép trong túi quần bên trái phía trước đang mặc 0,331 gam ma túy loại MDMA và 0,035 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Đại Cương và Công an phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng phát hiện, bắt quả tang.
Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lí chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới nếp sống văn minh, lành mạnh cũng như gây mất ổn định tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng chất ma túy Lê Đức V tàng trữ trái phép là (0,331 : 5 x 100%) + (0,035 : 20 x 100%) = 6,62% + 0,175% = 6,795% (dưới 100%). Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Đức V đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình) truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, do đó miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa không đủ căn cứ để xác định được nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và đối tượng có liên quan để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy đã thu giữ gửi đi giám định được hoàn trả lại là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển số 29D2-607xx là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Đức V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Lê Đức V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu huỷ số ma túy được niêm phong trong 01 phong bì mẫu vật hoàn trả sau giám định số 3244/KL-KTHS, có dấu niêm phong của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đen nâu biển số 29D2-607xx, số khung: RLHJC7654MY065304, số máy: JC90E0183869, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng nêu trên theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đức V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Ninh Bình; - Phòng HSNV CA tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thạo |