vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 17-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN , TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Văn Hàm .

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Khoàng Văn Hặc.

2. Ông Hờ A Thái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ, thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17/11/2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS, ngày 17/10 /2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 /11/ 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Mùa A S; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh năm 1979; Nơi cư trú: bản P, xã N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mùa C (đã chết) và bà Kháng Thị C (đã chết). Bị cáo có vợ Giàng Thị D1 - sinh năm: 1982.; Bị cáo có 07 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình bị cáo có 07 anh, em ruột bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã 01 lần bị kết án, cụ thể tại bản án số: 25/2019/HS-ST, ngày 02/7/2019 Tòa án huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đã được xóa án tích; Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính lần nào đến ngày phạm tội trong vụ án này.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2025, tạm giam từ ngày 26/7/2025 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Họ và tên: Chị Giàng Thị D1 - sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Bản P, xã N, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21giờ, ngày 19/7/2025, bị cáo Mùa A S đi xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-29.656 từ nhà ở bản P, xã N, tỉnh Điện Biên lên khu vực biên giới V - Lào thuộc bản Huổi Quang 1, xã N, tỉnh Điện Biên tìm mua Heroine về sử dụng, khi đi đến trung tâm xã N, tỉnh Điện Biên thì trời tối nên bị cáo xin ngủ nhờ tại nhà Vàng A M. Khoảng 07 giờ ngày 20/7/2025 bị cáo đi từ nhà của Vàng A M đến nhà Vàng A T để gửi nhờ chiếc xe mô tô nêu trên (Thàng là bố đẻ của M nhà cách nhau khoảng 100 mét). Sau đó, bị cáo thuê xe ôm đến khu vực bản H, xã N, tỉnh Điện Biên khoảng 12 giờ cùng ngày bị cáo tiếp tục đi bộ lên khu vực biên giới gần mốc 79 thuộc bản Huổi Quang 1, xã N, tỉnh Điện Biên thì gặp và mua của 01 người đàn ông không rõ lai lịch 01 cục Heroine bị cáo đưa cho người đàn ông đó 3.000.000đ. Sau khi mua được Heroine bị cáo chia nhỏ thành 03 cục nhỏ sau đó gói lại bằng mảnh nilon màu trắng rồi dùng bật lửa hơ kín lại rồi cất chung vào 01 gói bằng túi nilon màu xanh. Bị cáo cầm gói Heroine ở tay trái, sau đó rồi bị cáo mua thêm của người đàn ông đó 01 cục H1 với giá 50.000đ, bị cáo sử dụng hết tại chỗ rồi đi bộ về nhà. Đến 20 giờ 25 phút cùng ngày bị cáo đi bộ đến khu vực bản H, xã N, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng M1 phối hợp với phòng nghiệp vụ Bộ Chỉ huy Bộ Đội biên phòng tỉnh Đ và Công an xã N phát hiện bắt quả tang thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo 01 gói nilon màu xanh bên trong có 03 gói Heroine mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng được hàn kín, bị cáo khai nhận 03 gói nêu trên là Heroine bị cáo mua về để sử dụng. Tổ Công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định ngày 21/7/2025 xác định vật chứng thu giữ của bị cáo Mùa A S gồm: có khối lượng 22,78 gam chất bột màu trắng nghi Heroine. (gửi toàn bộ để giám định)

Tại bản kết luận giám định số: 709/KL-KTHS, ngày 23/7/2025 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận vật chứng thu giữ của Mùa A S có khối lượng là 22,78 gam chất bột màu trắng là chất ma túy loại Heroine (Hoàn lại mẫu vật sau giám định).Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSKV4, ngày 15/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mùa A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bị cáo Mùa A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mùa A S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại điểm khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 19,5 gam Heroine (Vật chứng còn lại sau giám định); 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 (một) túi nilon màu xanh, 03 (ba) mảnh nilon màu trắng dùng để gói vật chứng ban đầu không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe máy biển kiểm soát 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640. Trả lại cho chị Giàng Thị D1 là vợ Mùa A S ½ giá trị của chiếc xe máy biển kiểm soát 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640; tiếp tục tạm giữ 01 chìa khoá xe máy để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVHQ14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Giàng Thị D1 có lời khai như sau: Chiếc xe máy biển kiểm soát: 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640 là tài sản chung của gia đình. Bị cáo Mùa A S tự ý lấy xe máy đi không nói gì cho chị D1, chị D1 cũng không biết việc bị cáo S điều khiển xe máy đi mua Heroine. Đề nghị HĐXX, xem xét trả lại tài sản là chiếc xe máy cho gia đình để làm phương tiện đi lại.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo Mùa A S là vào khoảng 20 giờ 25 phút, ngày 20/7/2025 tại khu vực bản H2, xã N, tỉnh Điện Biên tổ công tác Đồn Biên phòng M1 phối hợp với phòng nghiệp vụ Bộ Chỉ huy Bộ Đội biên phòng tỉnh Đ và Công an xã N kiểm tra phát hiện Mùa A S có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 túi nilon màu xanh bên trong có 22,78 gam Heroine mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các biên bản ghi lời khai, bản cung của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó với hành vi mua Heroine có khối lượng 22,78 gam thu giữ của bị cáo. HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho việc buôn bán các chất ma túy và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết ma túy là chất gây hại nguy hiểm nên Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán nhưng bị cáo vẫn cố tình vi phạm. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hành vi của bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử cụ thể: Ngày 02/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/8/2022 đã được xóa án tích.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo là người nghiện mà túy, tuy nhiên trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích ở trên về hành vi của bị cáo, khối lượng Heroine thu được của bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt là có căn cứ. Do vậy HĐXX cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVHQ14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

. Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 19,5 gam Heroine (Vật chứng còn lại sau giám định); 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 (một) túi nilon màu xanh, 03 (ba) mảnh nilon màu trắng dùng để gói vật chứng ban đầu không còn giá trị sử dụng.

- Chiếc xe máy mà bị cáo sử dụng đi mua ma túy đây là tài sản chung của gia đình bị cáo, vợ bị cáo không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội do vậy: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe máy biển kiểm soát: 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640. Trả lại cho chị Giàng Thị D1 là vợ bị cáo Mùa A S ½ giá trị của chiếc xe máy biển kiểm soát 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640; tiếp tục tạm giữ 01 chìa khoá xe máy để đảm bảo thi hành án.

. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán Heroine cho bị cáo, do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với người lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy, bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể, bị cáo cũng không nói với người lái xe về việc đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng lái xe ôm nên không đề cập việc xử lý trong vụ án này.

Bị cáo sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-296.56 là tài sản chung của vợ chồng, vợ bị cáo không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không xem xét xử lý hành vi của vợ bị cáo chị Giàng Thị D1.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mùa A S, bị cáo không thuộc đối tượng theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 nên không có cơ sở giải quyết trong vụ án này.

. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A S 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2025. 3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 19,5 gam Heroine (Vật chứng còn lại sau giám định); 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 (một) túi nilon màu xanh, 03 (ba) mảnh nilon màu trắng dùng để gói vật chứng ban đầu không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe máy biển kiểm soát: 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640. Trả lại cho chị Giàng Thị D1 là vợ bị cáo Mùa A S ½ giá trị của chiếc xe máy biển kiểm soát 27Z1-296.56, nhãn hiệu ESPERO, số loại 130W1 màu sơn đen, số khung: RPEXCJ3PEKA325640, số máy: VDEJQ154FMJ-1325640; tiếp tục tạm giữ 01 chìa khoá xe máy để đảm bảo thi hành án. (Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ chuyển giao cho Phòng thi hành

án dân sự khu vực 4, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2025).

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVHQ14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/11/2025). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ