- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn C - tàng trũ trái phép chât ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| j TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH LÀO CAI Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày 29-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đức
2. Bà Đặng Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Định – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
Đặng Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 02 năm 2006 tại xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai); ĐKHKTT: Thôn N, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn N, xã T, tỉnh Lào Cai); Chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn G, xã T, tỉnh Lào Cai); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn D và bà Bàn Thị H; Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-01-2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên toà;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bàn Thị H
Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn N, xã T, tỉnh Lào Cai); Có mặt
Người chứng kiến: Ông Phạm Văn D1
Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn V, xã T, tỉnh Lào Cai); Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 00 phút ngày 13-01-2025, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma tuý Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại thôn V, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn V, xã T, tỉnh Lào Cai) thì phát hiện Đặng Văn C đang điều khiển xe mô tô biển số 21EA-231.23 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ tại túi quần phụ bên phải, phía trước của Đặng Văn C 01 (một) túi nilon màu trắng, miệng viền màu da cam, bên trong chứa 03 gói giấy, trong đó: 01 gói giấy màu trắng có nhiều chữ đỏ và 02 gói giấy màu trắng có nhiều dòng kẻ, bên trong ba gói giấy trên đều chứa chất bột nén màu trắng, nghi là ma túy, loại Heroine. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Đặng Văn C số tiền 900.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu trắng xám biển số 21EA - 231.23; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; 01 bật lửa gas; 01 căn cước công dân số 015206005363 mang tên Đặng Văn C; 01 ví giả da màu đen.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn C nhưng không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.
Quá trình điều tra vụ án xác định: Đặng Văn C là người nghiện ma túy, C được một người nghiện ma túy (C không nhớ là ai) cho số điện thoại của một người nam giới tên là B (không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ). Ngày 12-01-2025, Đặng Văn C gọi điện thoại vào số 0356158351 để hỏi mua ma tuý của B, hai bên hẹn nhau ở tại khu vực Đ, thôn G, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là Đội 8, xã T, tỉnh Lào Cai) để mua bán ma túy, tại đây C đã mua của B 03 gói ma túy loại Heroine với giá 900.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy C cất vào túi quần mang về nhà nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ ngày 13-01-2025, C điều khiển xe mô tô biển số 21EA-231.23 đi đến xã V để mua đồ dùng cá nhân, C mang theo số ma túy đã mua được của B. Khi đi đến thôn V, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn V, xã T, tỉnh Lào Cai) thì bị Lực lượng Công an bắt quả tang như nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số: 79/KL-KTHS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Y kết luận:
Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Đặng Văn C có tổng khối lượng là: 0,26 gam (không phẩy hai mươi sáu gam). 0,1 gam trích từ 0,26 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KV2 ngày 07-7-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Lào Cai đã truy tố Đặng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Chính P tôi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
*Về vật chứng Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng như sau:
-Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi;
- Tịch thu tiêu hủy: 0,16 gam heroine (Được đựng trong một phong bì); 03 mảnh giấy; 01 túi nilon màu trắng, miệng viền màu da cam; 01 ví giả da màu đen; 01 bật lửa gas vỏ nhựa màu đỏ;
- Trả lại cho bị cáo: 01 căn cước công dân số 015206005363 mang tên Đặng Văn C.
-Trả lại cho bà Bàn Thị H số tiền 900.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu trắng xám, biển số 21EA- 231.23
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
*Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu trên, không có ý kiến tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (nay là Viện kiếm sát nhân dân khu vực 2- Lào Cai), kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã đầy đủ, khách quan, hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đặng Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 13-01-2025 tại thôn V, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là thôn V, xã T, tỉnh Lào Cai), Đặng Văn C đã có hành vi tàng trữ 0,26 gam ma tuý, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Đồng thời, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Vì vậy, cần đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật.
Đặng Văn C là người có đủ năng lực nhận thức và điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của bản thân, bị cáo hiểu được tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ con người và đời sống xã hội nhưng vẫn nghiện ma tuý. Do đó, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX xem xét trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cơ quan Điều tra xác định chủ đăng ký số thuê bao 0356158351 là Nguyễn Xuân B, sinh năm: 1973, trú tại: Thôn S, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn S, xã X, tỉnh Tuyên Quang). Hiện nay Nguyễn Xuân B đang bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tạm giam về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Quá trình kiểm tra xác minh, Đặng Văn C được Cơ quan Điều tra cho nhận dạng ảnh của Nguyễn Xuân B nhưng C không nhận ra được Nguyễn Xuân B, mặt khác, B không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Đặng Văn C nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Xuân B. [7] Về vật chứng:
- Đối với 0,1 gam ma tuý, loại Heroine thu giữ của Đặng Văn C đã tiến hành giám định hết không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét;
- Đối với 0,16 gam heroine còn lại sau khi giám định; 03 mảnh giấy; 01 túi nilon màu trắng, miệng viền màu da cam có liên quan đến tội phạm; 01 ví giả da, 01 bật lửa ga không có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng và C không yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 căn cước công dân mang tên Đặng Văn C cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu “Redmi” có liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;
- Đối với 01 xe mô tô và số tiền 900.000 đồng là tài sản hợp pháp của bà Bàn Thị H, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bà H.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Đặng Văn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13-01-2025.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai và Công an tỉnh L ngày 24-7-2025 như sau:
-Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi (Được đựng trong một phong bì);
- Tịch thu tiêu hủy: 0,16 gam heroine (Được đựng trong một phong bì); 03 mảnh giấy; 01 túi nilon màu trắng, miệng viền màu da cam; 01 ví giả da; 01 bật lửa ga
- Trả lại cho bị cáo: 01 căn cước công dân mang tên Đặng Văn C.
- Trả lại cho bà Bàn Thị H số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu trắng xám biển số 21EA - 231.23
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Đặng Văn C phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lao Cai;
(đã ký)
- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
- VKSND khu vực 2- Lào Cai;
- Công an tỉnh Lào Cai (2);
- Phòng THADS tỉnh Lào Cai;
- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Lê Thị Thanh Nga
- Lưu HS, THA , TA.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở tư pháp; - VKS Yên Bình; - Công an Yên Bình; - THADS Yên Bình; - Bị cáo; người bị hại; - UBND xã Yên Bình; - Lưu HS, THA , TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Nga |