vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lù Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/7/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 28 - 10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Minh

Ông Vũ Văn Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Văn T; Bị cáo không có tên gọi khác; giới tính: Nam; sinh năm 1972 tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Bản T, xã B, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 02/12; Thẻ CCCD số: 011072000203, cấp ngày 04/4/2021; con ông: Lù Văn I và bà: Cà Thị L; Vợ: Lù Thị H; Bị cáo có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2005, bị cáo bị đưa ra xét xử về tội Trộm cắp tài sản và bị xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng; Năm 2008 bị cáo bị đưa ra xét xử về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy và bị xử phạt 28 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ 02 bản án trên và đều đã được xoá án tích; Bị cáo chưa bị xử lý hành chính lần nào. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/7/2025 và sau đó tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích đi tìm mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 06 giờ ngày 15/7/2025, Lù Văn T một mình đi bộ từ nhà tại bản T, xã B, tỉnh Điện Biên đến cầu bản Tọ, xã Búng Lao, tại đây T gặp và hỏi mua được 01 gói nhỏ Heroine gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 300.000 đồng của một người đàn ông dân tộc H’Mông tự giới thiệu tên là Phái. Sau đó, T cầm gói Heroine vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Khi về đến nhà thấy không có ai, T đi đến bàn uống nước trong phòng khách lấy gói Heroine ra dùng tay cấu một ít cho lên mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt hút. Số Heroine còn lại, T gói lại như cũ rồi cất giấu vào túi áo trước ngực bên trái đang mặc. Hồi 05 giờ 50 phút ngày 16/7/2025, Lù Văn T ở nhà thì bị tổ công tác Công an xã Búng Lao vào kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine còn lại mà T đang cất giấu.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 16/7/2025 đã xác định: Vật chứng thu giữ của T là 01 gói nilon màu hồng, bên trong là chất màu trắng dạng cục và bột có khối lượng là 0,44 gam; lấy toàn bộ vật chứng gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 668/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Gói vật chứng có khối lượng 0,44 gam là chất ma tuý, loại Heroine; sau khi giám định được hoàn lại 0,39 gam theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 24/7/2025. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV1 ngày 13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu để tiêu hủy vật chứng là số Heroine còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu hồng. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 16/7/2025, bị cáo Lù Văn T bị bắt quả tang trong khi đang cất giữ trái phép 0,44 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, các lời khai phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật. Với khối lượng ma tuý mà bị cáo đã cất giữ trái phép là 0,44 gam Heroine thì hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật song vì nhu cầu của bản thân đã cố tình vi phạm.

Về nhân thân:

Lý lịch của bị cáo theo bản án hình sự sơ thẩm số 17/2005/HSST, ngày 19/01/2005 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên thể hiện bị cáo sinh năm 1970 và có mẹ đẻ tên là Lù Thị L; theo bản án hình sự sơ thẩm số 11/2008/HSST, ngày 19/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thể hiện bị cáo sinh năm 1970, trình độ học vấn 3/10 và có mẹ đẻ tên là Cà Thị L. Tại lần phạm tội này, bị cáo đã khẳng định bản thân chính là người đã bị đưa ra xét xử theo 02 bản án nêu trên, đồng thời khẳng định là người sinh năm 1972, trình độ học vấn 2/12 và có mẹ đẻ tên là Cà Thị L. Căn cứ theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra như Căn cước công dân, so sánh mẫu vân tay của bị cáo trong hồ sơ các lần phạm tội, bản xác nhận thông tin về cư trú của bị cáo và của bố, mẹ bị cáo do chính quyền địa phương nơi bị báo cư trú cung cấp, có đủ cơ sở khẳng định lý lịch đúng của bị cáo Lù Văn T là sinh năm 1972, trình độ học vấn 2/12 và có mẹ đẻ là Cà Thị L.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, về nhân nhân đã từng bị đưa ra xét xử 02 lần về các tội: Trộm cắp tài sản và Vận chuyển trái phép chất ma túy, đến nay mặc dù đã được xoá án tích nhưng cũng cần xem xét, cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Hướng xử lý đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người sử dụng ma túy từ năm 2015 đến nay, đã từng bị xét xử và áp dụng hình phạt cách ly ra khỏi xã hội để cai nghiện ma tuý nhưng sau khi ra trại, bị cáo vẫn tiếp tục lao vào con đường sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì vậy, trong lần xét xử này, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc hơn nữa, phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là tương đối phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thì bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản gì đáng kể, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số Heroine đã thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,44 gam (đã gửi giám định toàn bộ và hoàn lại 0,39 gam sau khi giám định). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu hồng cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên toà, bị cáo xin miễn án phí. Vì vậy, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vấn đề khác: Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua được của một người đàn ông tên Phái, nhưng không biết địa chỉ của người này, Cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo khai nhận mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân, ngày 15/7/2025, bị cáo đã lấy ma tuý ra sử dụng 01 lần, tuy nhiên quá trình điều tra chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với bị cáo về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a/BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lù Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/7/2025.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,39 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau khi giám định); 01 mảnh nilon màu hồng (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13 tháng 10 năm 2025 giữa Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Điện Biên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/10/2025).

Cỡ chữ