vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre Tuyên án 07/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Nguyễn Thị Thái T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 07-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Châu Văn Bảy

2/ Ông Võ Hoàng Hiếu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Đông Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thị Thái T, sinh ngày 16/01/2002 tại tỉnh Trà Vinh.

+ Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: khóm A, thị trấn C, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

+ Trình độ học vấn: 12/12.

+ Nghề nghiệp: Làm thuê.

+ Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

+ Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, con bà Trần Thị T, sinh năm 1976.

+ Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

+ Bị cáo chưa có chồng, con.

+ Tiền án: Không.

+ Tiền sự: Không.

+ Bị cáo được điều tra tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/9/2024 cho đến nay.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Lê Ngọc L, sinh năm 1976. Địa chỉ cư trú: ấp A, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (có mặt).

- Người làm chứng: Bà Lê Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ thường trú: ấp A, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 23/7/2024, Nguyễn Thị Thái T có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 84L1-621.38 lưu thông trên tuyến tránh Quốc lộ 60 hướng từ cầu Mỏ Cày 2 đi cầu Cổ Chiên. Khi đến khu vực thuộc ấp A, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre do thiếu chú ý quan sát nên bị cáo không phát hiện ông Huỳnh Trọng T, sinh năm 1968 ngụ ấp A, xã A, huyện Mỏ Cày Nam đang đứng cạnh xe đạp gần mép đường trên phần đường bên phải theo hướng xe lưu thông nên không xử lý kịp dẫn đến đụng trực tiếp vào người làm ông T tử vong vào lúc 22 giờ 35 phút cùng ngày tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre.

Vật chứng và đồ vật tạm giữ gồm: 01 xe mô tô 02 bánh biển số 84L1-621.38, bị hư hỏng do tai nạn; 01 giấy đăng ký xe mô tô 02 bánh biển số 84L1-621.38 số 046447 do Nguyễn Thị Thái T đứng tên; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 841200001545 tên Nguyễn Thị Thái T; 01 xe đạp màu trắng; 01 chiếc dép bằng nhựa, màu xanh, bàn chân phải; 01 mảnh nhựa ốp bô xe 02 bánh biển số 84L1-621.38.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 22 giờ ngày 23/7/2024 ghi nhận: Hiện trường tai nạn giao thông xảy ra trên tuyến tránh Quốc lộ 60 thuộc ấp A, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa rộng 9,10m, giữa mặt đường có vạch kẻ sơn đường màu vàng đứt quảng, chia mặt đường thành 02 phần xe chạy riêng biệt. Khu vực xảy ra tai nạn giao thông không có hệ thống đèn đường chiếu sáng và không có biển báo giao thông đường bộ. Hiện trường ghi nhận có 01 dép cao su bàn chân phải màu xanh, 01 xe đạp, 02 vết cày, mảnh vỡ, vỏ xe ô tô, xe mô tô biển số 84L1-621.38, vùng máu và trụ camera, tất cả nằm bên đường phải theo chiều lưu thông. Hướng khám nghiệm từ cầu Mỏ Cày 2 đi cầu Cổ Chiên và ghi nhận các dấu vết chính như sau:

+ Vị trí dép cao su bàn chân phải màu xanh kích thước 0.30m x 0,12m nằm bên phần đường bên phải, điểm gần nhất cách mép đường 0,55m.

+ Xe đạp ngã nghiêng bên phải trên phần đường phải, đầu xe hướng về cầu Cổ Chiên, tâm trụ bánh sau cách điểm gần nhất dép cao su bàn chân phải màu xanh 1,65m, cách mép đường 0,10m, tâm trục bánh trước trùng mép đường bên phải, chân chống xe trạng thái buông xuống.

+ Vết cày 1 nằm bên phần đường phải dạng đường thẳng dài 0,05m, rộng 0,02m, đầu vết cày cách tâm trục bánh sau xe đạp 0,35m, cách mép đường 0,47m, cuối vết cày cách mép đường 0,42m.

+ Mảnh nhựa ốp bô xe mô tô biển số 84L1-621.38 nằm bên phần đường phải, mặt ngoài có vết bể trầy xướt 0,20m x 0,18m, điểm đầu mảnh vỡ cách đầu vết cày 1 là 1,10m, cách mép đường 0,20m, điểm cuối mảnh vỡ cách mép đường 0,15m.

+ Vỏ xe ô tô nằm trên lề đường bên phải có đường kính 1,10m, điểm gần nhất cách tâm trục bánh trước xe đạp 0,30m, điểm gần nhất cách mép đường 0,15m. Vết cày 2 nằm bên phần đường phải là vùng vết cày thẳng đứt quãng dài 6,90m, rộng 0,75m, đầu vết cày 2 cách đầu vết cày 1 là 0,95m và cách mép đường 0,75m, cuối vết cách mép đường 0,55m.

+ Xe mô tô biển số 84L1-621.38 dựng đứng trên lề đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đầu xe hướng cầu Cổ Chiên, tâm trục bánh sau cách đầu vết cày 2 5,90m và cách mép đường 01m, tâm trục bánh trước cách mép đường 0,50m.

+ Vùng máu nằm trên phần đường bên phải có kích thước 0,40m x 0,20m, tâm vùng máu cách đầu vết cày 2 là 7,40m, cách mép đường 0,10m.

+ Trụ camera nằm trên lề đường phải, mặt camera hướng về cầu Mỏ Cày 2 hướng về hiện trường. Trụ camera cách đầu vết cày 2 là 23,60m và cách mép đường 6,80m. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video clip ghi diễn biến vụ tại nạn tên “5662061408962” và “5663734916605”.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 84L1-621.38 ghi nhận các dấu vết chính như sau: Đầu xe không phát hiện dấu vết mới. Bửng xe bên phải bung hở trầy xướt mất bụi, đầu thấp nhất cách đất 55cm. Mặt sau mặt nạ trước bên phải bị bể. Mặt ngoài nhựa bát bắt gác chân sau bên phải có vết trầy xướt nhựa, điểm thấp nhất cách đất 38cm. Ốp nhựa bảo vệ bô xe gãy rơi mất. Đầu tay thắng bên trái có vết mài mòn kim loại. Đầu tay cầm bên trái có vết mài mòn. Mặt ngoài bệ để chân bên trái có vết mài mòn nhựa kích thước 20cm x 04cm. Mặt ngoài chống nghiêng có vết mài mòn kim loại kích thước 17cm x 02cm...

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp ghi nhận các dấu vết chính như sau: Cổ xe không có dấu vết mới. Rổ đựng hàng không có dấu vết mới. Bánh xe trước không có dấu vết mới. Phuộc xe trước đẩy lệch từ trước ra sau. Đuôi chắn bùn trước dính vào sườn xe. Yên xe đẩy lệch từ trái sang phải. Thanh gấp sau bên trái có vết trầy xước mất bụi, thấp nhất cách đất 27cm. Mặt dưới thanh ngang chống đứng có vết mài mòn kim loại...

Bản kết luận giám định số 86/KLGĐTT-KTHS, ngày 29/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, kết luận: Nạn nhân Huỳnh Trọng T chết do đa chấn thương.

Tại Kết luận giám định số 4961/KL-KTHS và số 5125/KL-KTHS cùng ngày 30/8/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (về dấu vết cơ học và sự cố kỹ thuật, tốc độ) kết luận: Dấu vết trược xước dạng các đường song song ốp mặt nạ trước đầu xe mô tô biển số 84L1-621.38 có chiều hướng từ trước về sau phù hợp với va chạm với nạn nhân Huỳnh Trọng T. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 84L1-621.38 với nạn nhân Huỳnh Trọng T, vị trí này chiếu xuống mặt đường nằm trên phần đường bên phải tuyến tránh Quốc lộ 60 theo hướng từ cầu Mỏ Cày 2 đi cầu Cổ Chiên, không đủ cơ sở xác định cách mép đường bên phải (theo hướng xe mô tô biển số 84L1-621.38 lưu thông) là bao xa. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 84L1-621.38 với xe đạp. Ngay trước khi và sau khi xảy ra tai nạn giao thông, hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn và còi của xe mô tô biển số 84L1-621.38 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng. Không đủ điều kiện xác định tốc độ của xe mô tô biển số 84L1-621.38 khi lưu thông trên đường lúc xảy ra tai nạn giao thông.

Kết quả xét nghiệm ma túy của Nguyễn Thị Thái T vào lúc 23 giờ 08 phút ngày 23/7/2024 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Cù Lao Minh là: Âm tính. Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Thị Thái T vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 23/7/2024 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Cù Lao Minh là: 00mg/100ml.

Kết quả xét nghiệm ma túy của Huỳnh Trọng T vào lúc 23 giờ 55 phút ngày 23/7/2024 tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu là: Âm tính. Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Huỳnh Trọng T vào lúc 00 giờ 06 phút ngày 24/7/2024 tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu là 281mg/100ml.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý các kết luận giám định, không có ý kiến khác.

Tại Bản cáo trạng số: 57/CT-VKSMCN ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã truy tố trước Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Thái T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, truy tố và thừa nhận hành vi đã thực hiện theo nội dung Bản cáo trạng.

* Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của người bị hại có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, cho rằng việc truy tố hành vi của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bảo lưu toàn bộ nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thái T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 585, 586, 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Lê Ngọc L là người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 300.000.000 đồng, gồm: các khoản chi phí điều trị, tiền xe, mai táng phí và tổn thất tinh thần. Ngoài ra, bà Lê Ngọc L không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã ra quyết định xử lý vật chứng số 623 ngày 26/9/2024 xử lý đồ vật bị thu giữ và đã trả cho bị cáo 01 xe mô tô biển số 84L1-621.38, 01 mảnh nhựa ốp bô xe cùng giấy đăng ký xe; trả cho bà Lê Ngọc L 01 xe đạp màu trắng và 01 chiếc dép nhựa màu xanh bàn chân phải.

Đối với giấy phép lái xe hạng A1 số 841200001545 mang tên Nguyễn Thị Thái T đề nghị trả lại cho bị cáo (hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam quản lý).

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, bị cáo có lỗi, xin lỗi gia đình người bị hại. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Qua lời khai của bị cáo, kết hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa nên đủ cơ sở kết luận:

[1] Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[3]. Bị cáo Nguyễn Thị Thái T thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ ngày 23/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thái T có giấy phép lái xe mô tô A1, điều khiển xe mô tô biển số 84L1-621.38 trên tuyến tránh Quốc lộ 60 hướng từ cầu Mỏ Cày 2 đi cầu Cổ Chiên, đến đoạn thuộc ấp A, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre do thiếu chú ý quan sát nên không phát hiện ông Huỳnh Trọng T đang đứng trên phần đường bên phải gần mép đường dẫn đến xe mô tô đụng vào người ông Huỳnh Trọng T gây tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

[4]. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về sức khỏe, tính mạng của người khác, phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5]. Trong lượng hình, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[5.1]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2]. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong thiệt hại cho gia đình bị hại; Bị cáo có ông ngoại là thương binh hạng 4/4, bà nội được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, bác ruột là thương binh hạng 2/4; Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6]. Mặc dù tai nạn là không mong muốn, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, nhưng hành vi tham gia giao thông không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn xảy ra. Tai nạn đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng làm mất đi tính mạng của một người, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại.

Về hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra cũng như xét về nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Bị cáo cũng đã thực hiện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của gia đình người bị hại, được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đủ điều kiện được xem xét hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Vì vậy, xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại như nêu trên nên ghi nhận. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã ra quyết định xử lý vật chứng số 623 ngày 26/9/2024 xử lý đồ vật bị thu giữ và đã trả cho bị cáo 01 xe mô tô biển số 84L1-621.38, 01 mảnh nhựa ốp bô xe cùng giấy đăng ký xe; trả cho bà Lê Ngọc L 01 xe đạp màu trắng và 01 chiếc dép nhựa màu xanh bàn chân phải là phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.

Đối với giấy phép lái xe hạng A1, số 841200001545 mang tên Nguyễn Thị Thái T cần tuyên trả lại cho bị cáo.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thái T 01 (một) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án là ngày 07/01/2025.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Càng Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh phối hợp với gia đình giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ghi nhận trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Lê Ngọc L là người đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), gồm: các khoản chi phí điều trị, tiền xe, mai táng phí và tổn thất tinh thần.

Ghi nhận bà Lê Ngọc L không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã ra quyết định xử lý vật chứng số 623 ngày 26/9/2024 xử lý đồ vật bị thu giữ và đã trả cho bị cáo 01 xe mô tô biển số 84L1-621.38, 01 mảnh nhựa ốp bô xe cùng giấy đăng ký xe; trả cho bà Lê Ngọc L 01 xe đạp màu trắng và 01 chiếc dép nhựa màu xanh bàn chân phải.

Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 841200001545 mang tên Nguyễn Thị Thái T (hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam quản lý).

[4]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 21, 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thị Thái T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Áp dụng các Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ