vanban.org

Bản án 02/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 03/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội hủy hoại rừng.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48( Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 03/01/2025. Giao bị cáo Đinh Văn Pcho UBND xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Phảnh - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội hủy hoại rừng.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày: 03/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vì Văn Tùng

2. Bà Đinh THị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu. Toà án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST- HS ngày 29/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 20/12/2024 đối với:

Bị cáo: Đinh Văn P(tên gọi khác: Không), sinh ngày 15 tháng 10 năm 1981 tại: huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn K, sinh năm 1945 và bà Đinh Thị P, sinh năm 1946; bị cáo có vợ là Khà Y C, sinh năm 2001 và có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Cộng đồng xóm Táu Nà; Địa chỉ: Xóm T, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Người đại diện ông Hà Văn T– Trưởng xóm Táu Nà. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Đinh Văn N, sinh năm 1984; Trú tại: Bản T, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có đất trồng cây hoa mầu để cải thiện kinh tế của gia đình. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 03/2024 đến giữa tháng 4/2024 Đinh Văn Pđã chuẩn bị dao và mượn máy cưa xăng cầm tay của anh Đinh Văn N tự ý đi vào khu rừng Thăm Khi (tiếng địa phương) tại xóm Táu Nà, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, thuộc rừng sản xuất của Cộng đồng xóm Táu Nà. Đinh Văn P dùng máy cưa để cưa các thân cây to và dùng dao để chặt các cây bé, sau khi chặt xong chờ cho cây cối, thảm thực vật khô héo Đinh Văn Psẽ đốt để chuẩn bị trồng hoa mầu.

Ngày 12/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Châu tiến hành khám nghiện hiện trường đối với diện tích rừng bị chặt phá. Xác định tổng diện tích rừng bị chặt phá là 8.560.3 m2 tại khoảnh 21 lô 7a tiểu khu 137 thuộc khu rừng sản xuất tại: Xóm Táu Nà, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Hiện do Cộng đồng xóm Táu Nà quản lý, khai thác theo giấy chứng nhận QSDĐ số AN648319 ngày 02/7/2008 của Chủ tịch UBND huyện Mai Châu. Số cây gỗ bị chặt phá là 38 cây, tổng khối lượng gỗ là 10,980m3, mật độ cây tái sinh chưa đủ quy cách bị chặt phà là 115 cây, tổng khối lượng là 03 Ster củi.

Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Mai Châu kết luận: 10,980m3 gỗ nhóm VI trị giá là 32.940.000 đồng và 03 Ster củi tận thu trị giá là 900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 33.840.000 đồng.

Ngày 10/4/2024 thấy lực lượng chức năng cùng chính quyền xóm Táu Nà đến kiểm tra hiện trạng khoảnh rừng trên thì Đinh Văn Pdừng việc chặt phá rừng. Đến ngày 08/8/2024 Đinh Văn Pđến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu đầu thú. Tháng 11/2024 Đinh Văn Pđã thỏa thuận với Cộng đồng xóm Táu Nà bằng hình thức trồng mới phục hồi toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ: 01 máy cưa xăng màu đỏ, tay cầm mầu đen, đã qua sử dụng. 01 con dao nhọn, lưỡi cong, chuôi dao bằng gỗ, dao dài 49cm, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra giao cho UBND xã Cun Pheo quản lý để xử lý theo quy định đối với tra 38 cây gỗ loại thường, tổng khối lượng 10,980 m3 và 115 cây tái sinh chưa đủ quy cách là gỗ tổng 03 Ster củi còn nằm rải rác trên diện tích rừng bị chặt phá.

Quá trình giải quyết vụ án xác định anh Đinh Văn N không biết Đinh Văn Pmượn máy cưa cầm tay đi chặt, phá rừng nên ngày 08/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu đã quyết định trả chiếc cưa xăng cầm tay cho anh Đinh Văn N.

Bản cáo trạng số: 59/CT- VKSMC ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Đinh Văn Pvề tội Hủy hoại rừng, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Đinh Văn Ptừ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Đề nghị không xử phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với anh Đinh Văn N là người đã cho Đinh Văn P mượn cưa máy cầm tay, anh N không biết P dùng vào việc chặt phá rừng. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho anh Đinh Văn N, anh N không yêu cầu đề nghị gì thêm nên đề nghị không tiếp tục xem xét.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 49 cm.

Đối với 38 cây gỗ loại thường, tổng khối lượng 10,980m3 và 115 cây tái sinh chưa đủ quy cách là gỗ, tổng 03 Ster củi đang nằm rải rác trên diện tích rừng bị chặt phá cần giao cho cộng đồng xóm Táu Nà xử lý theo quy định của pháp luật.

Cộng đồng xóm Táu Nà kiểm tra hiện trạng diện tích rừng bị hủy hoại, Đinh Văn P đã khắc phục trồng lại toàn bộ diện tích rừng bị hủy hoại, cây đã sống phát triển bình thường nên ngày 30/11/2024 Cộng đồng xóm Táu Nà có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đinh Văn P.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo tự bào chữa: rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Bị cáo khai nhận từ cuối tháng 03 năm 2024 đến giữa tháng 04 năm 2024, Đinh Văn P đã dùng cưa máy xăng cầm tay và dao chặt phá cây có diện tích là 8.560.3 m2 thuộc khu rừng sản xuất của xóm Táu Nà. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Đinh Văn P phạm tội Hủy hoại rừng. Theo điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự quy định:

“ 1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...........

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2); ................”

Từ đó khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này: Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chặt phá rừng là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến rừng sản xuất do cộng đồng xóm Táu Nà đang quản lý, sử dụng; gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, do đó cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.Trên cơ sở các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn nan hối cải; Tự nguyện bồi thường, khắc hậu quả; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Các tình tiết này được quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt chính sách tại địa phương nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục. Căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, nếu áp dụng hình phạt bổ sung thì bị cáo khó có điều kiện thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu trả chiếc cưa máy cầm tay cho anh Đinh Văn N là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét. Cần giao lại cho Cộng đồng dân cư xóm Táu Nà, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử lý 10,980m3 và 03 Ster củi hiện đang nằm rải rác trên diện tích rừng bị chặt phá. Cộng đồng xóm Táu Nà có trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, quản lý và phát triển toàn bộ số cây trồng phục hồi trên diện tích 8.560.3m2 rừng bị phá hoại, căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần xử lý như sau:Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 49cm.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48; khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội hủy hoại rừng.

2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48( Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 03/01/2025. Giao bị cáo Đinh Văn Pcho UBND xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu để tiêu hủy 01 con dao nhọn, lưỡi cong, chuôi dao bằng gỗ, dài 49 cm, đã qua sử dụng.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng và đặc điểm của vật chứng đã được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng,tài sản số:05/THA ngày 13/12/2024.

4.Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác: Giao toàn bộ diện tích 8.560.3 m2 tại khoảnh 21 lô 7a tiểu khu 137, rừng sản xuất theo Quyết định số 2140/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình đã được UBND huyện Mai Châu cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 02/7/2008 để Cộng đồng dân cư xóm Táu Nà, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tiếp tục chăm sóc, quản lý và phát triển diện tích rừng bị hủy hoại. Giao 38 cây gỗ loại thường, tổng khối lượng 10,980m3 và 115 cây tái sinh chưa đủ quy cách là gỗ tổng 03 Ster củi cho cộng đồng xóm Táu Nà, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử lý phù hợp với công tác bảo vệ rừng.

5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm, theo các Điều 331,332 và 333 Bộ luật tố tụng Hình Sự.

Cỡ chữ