- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày: 15-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trừ Minh Quốc
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Lõi và bà Võ Thị Thanh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk song tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 02-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1969 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ D, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Tài xế xe ô tô; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H (đã chết) và con bà Phan Thị M, sinh năm: 1941; bị cáo có vợ là Đặng Thị T, sinh năm 1969 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2002 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Trí B, sinh năm 1982 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1984 (là bố mẹ đẻ) – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã N'jang, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Võ Đình T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- 1 -
+ Anh Nguyễn Chí L, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn A, xã N'jang, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 13-7-2024, anh Võ Đình T1, sinh năm 1968 điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 82H-000.31 cùng Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1969 chở hàng đồ nội thất từ thành phố K, tỉnh Kon Tum đi thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 20 giờ cùng ngày thì K đổi tài thay anh T1 điều khiển, anh T1 ra băng ghế phía sau nằm ngủ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe đến địa phận bon Jang P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Lúc này K điều khiển xe ô tô tải trên làn đường dành cho xe cơ giới của phần đường bên phải thì phía trước, khoảng 40 mét có 01 xe ô tô tải (không rõ biển kiểm soát) lưu thông cùng chiều (xe ô tô tải này đi đúng làn đường, phần đường và không bật đèn tín hiệu xi nhan để xin vượt xe khác). Do vạch kẻ tim đường và vạch kẻ sơn đứt quãng, K vượt xe ô tô này và quan sát phía trước không có ánh đèn chiếu sáng của các phương tiện đi ngược chiều nên K bật đèn tín hiệu xi nhan bên trái và điều khiển xe tăng tốc, đánh lái sang trái, đi hẳn sang phần đường dành cho phương tiện di chuyển ngược chiều (xe bánh lái phía trước bên phải nằm ở khu vực giữa tim đường), cùng thời điểm này anh Nguyễn Trung H1, sinh ngày 02/8/2002, trú tại thôn A, xã N'jang, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 lưu thông hướng ngược lại. Khi đến Km 1888+100 đường H thì xảy ra va chạm vào phần đầu xe bên tài (bên trái) của xe ô tô tải do anh K điều khiển.
Hậu quả: Anh Nguyễn Trung H1 tử vong tại chỗ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 1888+100 đường H thuộc bon Jang P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo hướng huyện Đ đi thành phố G. Đoạn đường cong, xuống dốc. cCó mặt đường trải nhựa rộng 11,60m, ở giữa có vạch sơn kẻ đường màu vàng đứt quãng để phân chia hai phần đường cho các phương tiện lưu thông ngược chiều, mỗi phần đường có hai 02 làn đường được phân chia bởi vạch sơn kẻ đường màu trắng liên tục cho các phương tiện lưu thông cùng chiều. Hai bên lề đường không có rãnh thoát nước, dân cư sinh sống, trên đường không có vật cản, tầm nhìn bị hạn chế do góc cua và bắt đầu xuống dốc theo hướng huyện Đ về hướng thành phố G.
Chiều hướng khám nghiệm hiện trường: Lấy theo hướng huyện Đ về thành phố G làm hướng khám nghiệm. Mép đường bên trái làm mép đường
- 2 -
chuẩn để đo đạc, tất cả các số đo vào mép đường chuẩn đều được đo vuông góc.
Điểm mốc: Lấy cột Km 1888 +100 làm điểm mốc. Các số đo hiện trường được tính bằng đơn vị mét.
Hiện trường ghi nhận các phương tiện, dấu vết, đặc điểm như sau: Trên mặt đường phát hiện dấu vết cày in trên mặt đường có kích thước (0,01x22,15)m, không liên tục in trên mặt đường, điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn 4,1m, điểm cuối dấu vết tại vị trí xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 đang nằm ngả nghiêng bên trái cách mép đường chuẩn 4,0m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh dấu số (1).
Trên mặt đường phát hiện dấu vết cày in trên mặt đường có kích thước (0,01x21,80), không liên tục in trên mặt đường, điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn 4,4m, cách điểm đầu dấu vết (1) 0,8m; điểm cuối dấu vết tại vị trí xe mô tô biển số 62D1-198.16 đang nằm ngả nghiêng bên trái cách mép đường chuẩn 4,15m. trên sơ đồ hiện trường được đánh dấu số (2).
Trên mặt đường phát hiện dấu vết cày in trên mặt đường có kích thước (0,30x21,80)m, không liên tục in trên mặt đường, điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn 3,80m, điểm cuối dấu vết tại vị trí xe mô tii biên số 62D-198.16 đang nằm ngả nghiêng bên trái cách mép đường chuẩn 4,90m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh số (3).
Trên lề đường bên trái theo hướng khám nghiệm, phát hiện 01 mũ bảo hiểm, bể phần nhựa ngoài, phần lõi trong bằng xốp cách mép đường chuẩn 0,6m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh số (4).
Trên mặt đường phát hiện 02 chiếc dép da màu đen được đánh số thứ tự (5) và (6). Vị trí số (5) cách mép đường chuẩn 3,2m, vị trí số 6 cách mép đường chuẩn 4,1m.
Xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 nằm ngả nghiêng bên trái, phía lề đường bên trái theo hướng khám nghiệm. Đầu xe hướng về G, đuôi xe hướng về Đ, xe mô tô nằm dưới cảng trước của xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31, trục bánh trước cách mép đường chuẩn 4,0m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn 4,9m, cách điểm mốc 21,3m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh số (7).
Xe ô tô biển kiểm soát 82H-000.31 đang đỗ, khoảng 2/3 thân xe dừng trên lề đường bên trái, khoảng 1/3 thân xe dừng trên mặt đường. Đầu xe hướng vào nhà dân, vuông góc với mép đường chuẩn, đuôi xe vuông góc với mép đường chuẩn theo hướng ngược lại. Trục bánh xe trước bên trái cách mép đường chuẩn 4,8m, trục bánh xe trước bên phải cách mép đường chuẩn 4,0m cách
- 3 -
điểm mốc 20,7m, trục bánh xe sau bên phải cách mép đường chuẩn 0,8m, cách điểm mốc 18,3m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh số (8).
Trên mặt đường bên trái phát hiện 01 tử thi nam giới nằm ngửa, mặc áo khoác vải dài tay màu đen, quần vải màu đen. Đầu hướng về G, chân hướng về đắk Mil. Đầu tử thi cách bánh xe sau bên phải 3,7m, cách điểm mốc 15,6m. Chân trái của tử thi cách mép đường chuẩn 1,7m, chân phải cách mép đường chuẩn 1,6m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh số (9).
Trên mặt đường phát hiện dấu vết chà lốp kích thước (0,17x2,0)m liên tục in trên vạch sơn vàng tại tim đường, điểm đầu dấu vết cách điểm mốc 6,6m, điểm cuối dấu vết cách mép đường 5,9m. Trên sơ đồ hiện trường được đánh số (10).
Căn cứ dấu vết để lại trên hiện trường và các dấu vết trên phương tiện, lời khai của những người liên quan, dữ liệu camera tại nơi xảy ra tai nạn xác định điểm va chạm đầu tiên và được đánh dấu trên sơ đồ hiện trường ký hiệu (X). Điểm (X) nằm hoàn toàn ở phần đường bên trái theo chiều hướng khám nghiệm và cách mép đường chuẩn 4,15m; cách vị trí số (4) là 5m; cách điểm mốc 8,7m. Từ điểm (X) phát hiện nhiều mảnh vỡ nằm rải rác trên mặt đường, tập trung nhiều mảnh vỡ dần về phía đuôi xe đang đỗ.
Tại Kết luận giám định ngày 30-7-2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ kết luận: Tình trạng an toàn kỹ thuật các hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn chiếu sáng phía trước và hệ thống còi của xe ô tô biển kiểm soát 82H-000.31 tại thời điểm giám định an toàn kỹ thuật vào ngày 26-7-2024:
Các nội dung không đảm bảo yêu cầu theo quy định: 02 cụm đèn chiếu sáng bên trái (đèn chiếu xa và đèn chiếu gần) và đèn sương mù (đèn cản) bên trái bị vỡ hoàn toàn và rơi ra khỏi vị trí lắp đặt; Đèn sương mù (đèn cản) bên phải không sáng; Đòn quay đứng và đòn kéo dọc thuộc dẫn động lái bị cong vênh
Tại thời điểm giám định, lá nhíp chỉnh (liên kết với gối nhíp phía trước) của cụm nhíp bên trái trục 1 bị gãy, lệch khỏi vị trí lắp đặt làm buồng lái bị nghiêng lệch về bên trái, hệ thống lái bị hỏng, không đảm bảo an toàn để xe hoạt động bình thường. Do đó tổ chức giám định không có cơ sở để kết luận tình trạng an toàn kỹ thuận của hệ thống phanh.
Ngoài các nội dung trên, còi điện và các đèn chiếu sáng bên phải (đèn chiếu xa và đèn chiếu gần) hoạt động bình thường. Riêng đối với các chỉ tiêu về cường độ sáng và góc lệch chùn sáng của các đèn chiếu sáng bên phải, tổ giám định không có cơ sở để kết luận.
- 4 -
Tại kết luận giám định tử thi số 85/KLGĐTT-TTPY ngày 01-8-2024 của Trung tâm pháp y thuộc sở y tế tỉnh Đ đối với Nguyễn Trung H1 như sau:
Kết quả khám nghiệm: Vỡ, sập toàn bộ xương hộp sọ vùng trán, vỡ, sập lún xương mũi, xương gò má hai bên; gãy kín 1/3 xương đòn phải; gãy kín hai xương cánh tay trái; Gãy hở xương đùi trái; Gãy hở 1/3 giữa hai xương cẳng chân.
Kết luận: Nguyên nhân chết là chấn thương sọ não, đa chấn thương.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 39/KL-HĐĐGTS ngày 24-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị thiệt hại tính thành tiền chi phí khôi phục tình trang ban đầu của tài sản trước khi bị hư hỏng tại thời điểm trước ngày 13-7-2024 của xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 là 48.114.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 40/KL-HĐĐGTS ngày 25-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị thiệt hại tính thành tiền những hư hỏng là chi phí sửa chữa, thay thế khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản trước khi bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát: 62D-198.16 tại thời điểm ngày 13-7-2024 là 16.815.000 đồng
Kết quả đo nồng độ cồn vào lúc 01 giờ 20 phút ngày 14-7-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ phối hợp cùng phòng cảnh sát giao thông, công an tỉnh Đ đối với Nguyễn Ngọc K thể hiện không có nồng độ cồn trong hơi thở và biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 14-7-2024 thể hiện Nguyễn Ngọc K âm tính với chất ma túy.
Hành vi điều khiển xe ô tô tải vượt phương tiện lưu thông đi cùng chiều, lấn sang đường bên trái theo hướng đi, gây tai nạn, làm chết 01 người của Nguyễn Ngọc K đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và khoản 7 Điều 5 nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 31-12-2019.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-ĐS ngày 23-12-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, quyết định truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, không oan.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và khẳng định quyết định truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xem xét, đánh giá các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông
- 5 -
đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum và gia đình bị cáo giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc chủ phương tiện xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 là anh Võ Đình T1 và Nguyễn Ngọc K đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho ông Nguyễn Trí B và bà Phạm Thị H2 là bố mẹ đẻ anh Nguyễn Trung H1. Ông Nguyễn Trí B và bà Phạm Thị H2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với thiệt hại xe ô tô biên kiểm soát 82H-000.31 chủ sở hữu hợp pháp anh Võ Đình T1 và xe mô too biển kiểm soát 62D-198.16 chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Chí L không yêu cầu Nguyễn Ngọc K bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB 0289401, cấp ngày 12-4-2024 đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 là tài sản hợp pháp của anh Võ Đình T1; 01 xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Chí L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C, số 620035000581 do Sở giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 09/10/2019 mang tên Nguyễn Ngọc K nên cần trả cho Nguyễn Ngọc K.
Đối với 01 đoạn video có dung lượng 36,2 Mb dài 03 phút ghi lại việc hình ảnh 01 xe mô tô tải di chuyển trên đường H theo hướng từ huyện Đ đi thành phố G đang vượt bên trái 01 xe ô tô tải khác đang di chuyển cùng chiều phía trước, được lưu trữ vào 1 USB nhãn hiệu DT101G2, dung lượng 8 GB nên cần chuyển lưu trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
- 6 -
quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Trí B và bà Phạm Thị H2 vắng mặt. Tuy nhiên, đã có đơn xin xét xử vắng mặt và quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường thiệt hại và họ không có yêu cầu gì thêm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Võ Đình T1 và anh Nguyễn Chí L vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ không yêu cầu gì đối với các tài sản bị thiệt hại nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cở sở xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13-7-2024, Nguyễn Ngọc K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 82H – 000.31 lưu thông trên đường H hướng thành phố K, tỉnh Kon Tum đi thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến Km 1888+100m thuộc bon J Plây 3, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Nguyễn Ngọc K điều khiển xe ô tô tải lấn sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô tải khác chạy cùng chiều nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 do anh Nguyễn Trung H1 điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả làm anh Nguyễn Trung H1 chết tại chỗ.
Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Điều 260. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
....”
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, để lại hậu quả nghiêm trọng khiến anh H1 tử vong. Tuy bị cáo vô ý đối với hậu quả xảy ra nhưng vì không chấp hành quy định về an toàn giao thông đường bộ nên dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
- 7 -
. Về tính tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được đại diện gia đình xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
. Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú và nơi làm việc ổn định, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử nhận thấy không cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, chủ xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 là anh Võ Đình T1 và bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Trí B và bà Phạm Thị H2 (là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Trung H1) số tiền 150.000.000 đồng. Ông Nguyễn Trí B và bà Phạm Thị H2 có đơn không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Đối với thiệt hại xe ô tô biên kiểm soát 82H-000.31 chủ sở hữu hợp pháp anh Võ Đình T1 và xe mô tô biển kiểm soát 62D-198.16 chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Chí L không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB 0289401, cấp ngày 12-4-2024 đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 là tài sản hợp pháp của anh Võ Đình T1, do đó ngày 06-9-2024 và ngày 06-12-2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp; Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Chí L, do đó ngày 06-9-2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trả lại 01 giấy phép lái xe số 620035000581 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 09-10-2019 cho bị cáo Nguyễn Ngọc K.
Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đối với bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận.
- 8 -
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày (15/01/2025).
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum và gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 591 Bộ luật Dân sự:
Chấp nhận việc anh Võ Đình T1 và bị cáo Nguyễn Ngọc K đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Trí B và bà Phạm Thị H2 (là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Trung H1) số tiền 150.000.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận ngày 06-9-2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 cho anh Võ Đình T1; ngày 06-12-2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB 0289401, cấp ngày 12-4-2024 đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 82H-000.31 cho anh Võ Đình T1.
Chấp nhận ngày 06-9-2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 62D1-198.16 cho anh Nguyễn Chí L.
Trả lại 01 giấy phép lái xe số 620035000581 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 09-10-2019 cho bị cáo Nguyễn Ngọc K (Có đặc điểm theo Quyết định chuyển đồ vật, tài liệu số 02/QĐ-VKS-ĐS, ngày 23/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song).
- 9 -
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - CA huyện Đắk Song; - CCTHADS huyện Đắk Song; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: HS,VP. - 10 - | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trừ Minh Quốc |