- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-PT Ngày: 13-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường và ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1981 tại huyện K, tỉnh Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã C (nay là xã L), huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức B và bà Vũ Thị N; có vợ là Ngô Thị Thúy H (đã ly hôn) và 2 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Dương Xuân T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Dương Thị T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức Đ có giấy phép lái xe ô tô hạng FC (do sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 07/6/2020, có giá trị đến ngày 07/6/2025) là lái xe hợp đồng cho Công ty TNHH T2 ở phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Khoảng 14 giờ ngày 15/11/2023, Đ điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-317.96, kéo rơ moóc sơn màu vàng, biển số 15R-114.81, đi từ khu công nghiệp T, tỉnh Bắc Ninh về thành phố Hải Phòng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe về đến Km 63+300 Quốc lộ E chiều đường H - Hải Phòng thuộc thôn L, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường thẳng một chiều xe chạy, mặt đường được trải nhựa áp phan phẳng phân chia thành 03 làn đường, theo chiều đường tính từ trái sang phải gồm: làn đường xe ô tô; làn đường xe ô tô, mô tô; làn đường xe mô tô, xe máy và thô sơ. Tiếp giáp mép đường bên phải là khu vực lề đường lưu không đường bộ và đường sắt rộng 15 mét. Đoạn đường này nằm trong phạm vi các biển báo P130 (cấm dừng, cấm đỗ xe) và P127 (tốc độ tối đa cho phép 60km/h). Lúc này, Đ điều khiển xe đỗ ở khu vực lưu không giữa đường bộ và đường sắt để đi ăn cơm, sau đó ngủ trên cabin của xe. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, Đ bật đèn báo cảnh báo nguy hiểm phía sau xe và điều khiển xe ô tô đầu kéo nêu trên đi lùi từ lề đường lưu không ra Quốc lộ E để đi về thành phố Hải Phòng. Do thiếu chú ý quan sát, lùi xe không đảm bảo an toàn nên khi phần sau rơ moóc biển số 15R-114.81 lùi ra làn đường xe mô tô, xe máy và thô sơ thì phần góc sau bên trái rơ moóc (gồm: thanh kim loại chắn bùn, K bảo vệ cụm đèn tín hiệu) va chạm với phần đầu bên phải xe mô tô loại Wave RSX, biển số 34B2-517.56 (gồm: mặt ngoài chắn bùn trước, cánh yếm phía trên, mặt nạ, mặt ngoài ốp nhựa phía trên đèn pha, mặt ngoài phía trước đầu nắm tay phanh) do anh Dương Xuân T điều khiển đang đi thẳng trên làn đường xe mô tô, xe máy và thô sơ, hướng Hà Nội - Hải Phòng. Sau khi xảy ra va chạm, xe mô tô biển số 34B2-517.56 bị đổ nghiêng trái, người anh T va đập vào phía sau góc bên trái rơ moóc và anh T bị ngã xuống mặt đường trên làn xe ô tô, mô tô. Hậu quả: anh T bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu và được chuyển lên Bệnh viện H1 cấp cứu, điều trị từ ngày 16/11/2023 đến ngày 21/12/2023 thì ra viện. Sau đó, anh T được gia đình đưa đến Bệnh viện P và Bệnh viện đa khoa tỉnh H điều trị, phục hồi sức khỏe đến khi ra viện.
Ngày 16/11/2023, trong khi lùi xe Đoàn không biết đã gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên, nên Đ điều khiển xe đi đến cảng H trả 02 vỏ container rồi về Công ty TNHH T2 làm việc, lấy lệnh điều vận tiếp tục điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-317.96, kéo rơ moóc biển số 15R-114.81 đi lấy hàng và trả hàng. Ngày 07/12/2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện K đến Công ty TNHH T2 xác minh. Thời điểm này, Đ mới biết việc đã lùi xe gây ra tai nạn giao thông làm anh T bị thương.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 357/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 16/5/2024 của Trung tâm P, kết luận: anh Dương Xuân T bị chấn thương sọ não nặng, vỡ xương sọ, nền sọ, đụng dập nhu mô não rộng, xuất huyết dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng đã điều trị phẫu thuật lấy máu tụ, ghép xương sọ, phục hồi chức năng; chấn thương thị thần kinh, lõm nhãn cầu do tổn thương thành xương hốc mắt gây giảm thị lực mắt phải sáng tối (+)... Hiện tại khám chuyên khoa thần kinh kết luận: Tổn thương não di chứng động kinh - vận động (hạn chế vận động tứ chi - liệt tứ chi mức độ nhẹ). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Dương Xuân T tại thời điểm giám định là 91%. Thiệt hại làm hư hỏng xe mô tô biển số 34B2-517.56 của anh T là 160.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Đ 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/10/2024 bị cáo Đ kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Đức Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Đ trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đức Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 30 ngày 16/11/2023, tại Km 63+300 Quốc lộ E, chiều đường H - Hải Phòng thuộc địa phận thôn L, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Đức Đ (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-317.96, kéo rơ moóc sơn màu vàng, biển số 15R-114.81 đang đỗ ở lề đường lưu không bên phải chiều đường (trong phạm vi biển báo cấm dừng, cấm đỗ xe) đi lùi ra Quốc lộ E để đi về thành phố Hải Phòng, do thiếu chú ý quan sát, lùi xe không đảm bảo an toàn nên khi phần sau rơ moóc biển số 15R-114.81 lùi ra làn đường xe mô tô, xe máy và thô sơ thì phần góc sau bên trái rơ moóc va chạm với phần đầu bên phải xe mô tô biển số 34B2-517.56 do anh Dương Xuân T điều khiển đang đi thẳng trên làn đường xe mô tô, xe máy và thô sơ, hướng Hà Nội - Hải Phòng. Hậu quả anh T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 91%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức Đ đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và Điều 16 Luật giao thông đường bộ và gây thiệt hại nghiêm trọng nên đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đ về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tội danh, bị cáo Đ không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị.
Xét kháng cáo của bị cáo Đ thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có một phần lỗi và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông không chú ý quan sát. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động duy nhất trong gia đình, nguyên nhân gây nên vụ tai nạn giao thông có một phần lỗi của người bị hại nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị mà Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
2. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
3. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Đ.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị mà Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 13/01/2025.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND huyện Kim Thành; - VKSND huyện Kim Thành; - Cơ quan CSĐT, HSNV, THAHS - Công an huyện Kim Thành; - Chi cục THADS huyện Kim Thành; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: VP, Tòa Hình sự, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |