- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Đỗ Thị C và Nguyễn Đăng H phạm tội: Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HS-PT Ngày 08 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Thông Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Triết, ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2024/TLHS-PT ngày 02/12/2024 đối với các bị cáo Đỗ Thị C và Nguyễn Đăng H về tội “Đánh bạc”.
Do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị C và Nguyễn Đăng H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 301/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Đỗ Thị C, sinh năm 1985; tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn D, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Ngô (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết). Bị cáo có chồng là Trần Hữu Đ và có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 25/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và được xóa án tích. (Tại bản án số 18/2020/HSST).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 06/7/2024 đến ngày 30/7/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh (có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Đăng H, sinh năm 1980; tại tỉnh Khánh Hoà; Nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng C1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị V. Bị cáo có vợ là Đỗ Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 19/01/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”, (tại bản án số 15/2021/HSPT), đã được xoá án tích .
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 06/7/2024 đến ngày 30/7/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh (vắng mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị C: Luật sư Đinh Xuân T1, thuộc Văn phòng L2 – Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: B A L, Phường T, thành phố B, Đắk Lắk (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có 04 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
* Người kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Thị C và Nguyễn Đăng H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Thị T2, Huỳnh Thị N, Vũ Thị Thu H1, Đỗ Thị C và Võ Thị L1 đều làm nghề buôn bán hạt điều và nhiều lần cùng nhau đi thu mua hạt điều. Khoảng 11 giờ ngày 05/7/2024, T2 cùng chồng là ông Hà Ngọc D và N từ tỉnh Bình Phước đi về tỉnh Đắk Lắk, khi đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì cả ba đến thuê phòng 604 và 605 của khách sạn B ở địa chỉ số A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để nghỉ ngơi và chờ đến chiều cùng ngày sẽ đi thu mua hạt điều. Nhàn ở phòng 604, còn D với T2 ở phòng 605.
Nhận phòng xong, T2 qua phòng 604 của N chơi, rồi T2 gọi điện thoại cho H1, C và L1 đến khách sạn Biện Điện để bàn việc đi thu mua hạt điều. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, lần lượt H1, C và Nguyễn Đăng H (sống như vợ chồng với C) đến phòng 604 của khách sạn B. Tại đây, trong lúc chờ đi mua hạt điều thì tất cả rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài Phỏm. Lúc này, H1 đi mua 02 bộ bài Tây loại 52 lá để làm công cụ đánh bạc, tất cả ngồi trên nền nhà, ở giữa trải 01 chiếc khăn bằng vải màu nâu của khách sạn để làm nơi bỏ bài và tiền đánh bạc.
Các bị cáo thống nhất cách thức thắng thua như sau: Người về nhất thắng tiền của 03 người chơi còn lại, về nhì thua 100.000 đồng, về ba thua 200.000 đồng, về chót thua 300.000 đồng, bài bị “Cháy” thua 400.000 đồng, người nào “Ù thường” thắng mỗi người 500.000 đồng, “Ù tròn” thắng mỗi người 1.000.000 đồng, “Tứ quý” thắng mỗi người 500.000 đồng, “Tứ quý C2” thắng mỗi người 1.000.000 đồng, người nào có lá bài cá thì thắng 100.000 đồng/người/01 lá. Sau khi thống nhất xong tất cả bắt đầu đánh bạc với nhau, T2 đem theo số tiền 10.300.000 đồng, H1 đem theo số tiền 14.000.000 đồng, N đem theo số tiền 7.600.000 đồng và C đem theo số tiền 15.000.000 đồng đều sử dụng hết để đánh bạc, H và C chung 01 tụ để thay nhau đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì L1 đến và ngồi ngoài xem đánh bạc, khoảng 30 phút sau H1 nghỉ và nhường lại tụ cho L1 tiếp tục đánh bạc với T2, N, H và C. Lúc này, L1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng vào ứng dụng mbanking chuyển khoản số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản số 055066077089 ngân hàng S của L1 đến tài khoản số 050104077789 ngân hàng S của H1 để đổi ra tiền mặt và lấy tiền nợ 1.000.000 đồng từ N cùng số tiền 2.000.000 đồng đem theo, để sử dụng hết vào việc đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, do chuẩn bị đi mua hạt điều nên C nghỉ đi ra ngoài rút số tiền 20.000.000 đồng để đi mua điều, Hà thế tụ của C để tiếp tục đánh bạc, do C nghỉ nên H cũng nghỉ và nằm trên giường ngủ cạnh đó xem các mọi người đánh bạc. Khoảng 30 phút sau, C quay lại cùng H thế vào tụ của N đánh bạc cùng H1, T2 và L1. Quá trình đánh bạc, do thua hết tiền nên H lấy ra số tiền 4.500.000 đồng đem theo đưa cho C để tiếp tục đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi T2, H1, L1, H và C đang đánh bạc, còn N ngồi ngoài xem thì bị Đ1 Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, tạm giữ tại sòng bạc tổng số tiền 29.800.000 đồng, trong đó tụ của T2 số tiền 2.500.000 đồng, tụ của H1 số tiền 10.000.000 đồng, tụ của Lý số tiền 13.300.000 đồng, tụ của H và C số tiền 4.000.000 đồng, tạm giữ trên người Nhàn số tiền 11.200.000 đồng, L1 số tiền 8.200.000 đồng, H số tiền 600.000 đồng, H1 số tiền 3.600.000 đồng, C số tiền 20.000.000 đồng, 01 chiếc khăn bằng vải màu nâu và 02 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng.
Hình thức, cách thức đánh bài Phỏm được thua bằng tiền như sau: Người chơi sử dụng 02 bộ bài Tây 52 lá để làm công cụ đánh bạc, 01 bộ dùng để chia bài, bộ còn lại để bốc lá bài cá. Người nào chia bài sẽ chia cho mình 10 lá bài và chia cho ba người còn lại 09 lá bài, còn lại 15 lá bài sẽ úp ở giữa chiếu bạc để bốc theo lượt. Người đối diện người chia bài sẽ dùng một bộ bài còn lại để bốc ngẫu nhiên một lá bài dùng làm lá bài cá của ván bạc đó. Người có 10 lá bài sẽ được đánh trước ra một lá bài, người theo lượt tiếp theo nếu không ăn được lá bài của người trước đó đánh ra thì sẽ bốc 01 lá bài úp ở giữa chiếu bạc và sau đó sẽ đánh ra một lá bài. Cứ như thế cho đến khi bốc hết bài úp giữa chiếu bạc, thì sẽ đếm điểm của từng người để tính thắng thua. Các kết quả trong hình thức đánh bài phỏm gồm có: Ù, nhất, nhì, ba, chót, cháy, chốt hạ, cá, đánh ra lá bài bị người kế tiếp ăn. Khi kết thúc ván bài thì tính điểm của các lá bài còn lại không tạo thành P để phân chia xác định thắng thua và người ít điểm nhất thì thắng tiền của 03 người còn lại. Cách tính điểm như sau: Quân A là 01 điểm, các quân bài đánh số từ 2 đến 10 có số điểm tương ứng với số trên quân bài, quân J, Q, K có số điểm lần lượt là 11, 12, 13 điểm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 301/20247/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị C và Nguyễn Đăng H phạm tội: Đánh bạc
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đỗ Thị C 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 06/7/2024 đến ngày 30/7/2024)
Xử phạt: Nguyễn Đăng H 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 06/7/2024 đến ngày 30/7/2024)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với 04 bị cáo khác, các biện pháp tư pháp, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/10/2024 bị cáo Nguyễn Đăng H có đơn kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ.
Ngày 02/10/2024 bị cáo Đỗ Thị C kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Xin được cải tạo không giam giữ.
Ngày 07/01/2025 bị cáo Nguyễn Đăng H có đơn xin rút toàn bộ đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đỗ Thị C3 và Nguyễn Đăng H tội “Đánh bạc” theo điểm b khản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự, là có căn cứ và đảm bảo đúng người, đúng tội. Trước khi bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đăng H có đơn rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo đã rút kháng cáo. Về mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Đỗ Thị C 03 năm tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo C trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, đang trực tiếp nôi hai con nhỏ. Hơn nữa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo đánh bạc không chuyên nghiệp. Do đó, đề nghị HĐXX cho bị cáo C được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn và cho bị cáo được áp dụng biện pháp chấp hành hình phạt không phải là giao giữ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Đỗ Thị C không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trước khi bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đăng H đã có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét thấy, việc bị cáo rút đơn kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét lời khai nhận tội của các bị Đỗ Thị C tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 05/7/2024, tại phòng 604 khách sạn B, địa chỉ A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trịnh Thị T2, Vũ Thị Thu H1, Đỗ Thị C, Võ Thị L1, Nguyễn Đăng H, Huỳnh Thị N cùng nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài Phỏm thắng thua bằng tiền thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 53.400.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đỗ Thị C về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo của bị cáo Đỗ Thị C, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo C có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” và đã được xoá án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 03 năm tù về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị C, cần giữ nguyên án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Thị C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Đăng H; Bản án hình sự sơ thẩm số: 301/20247/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đối với Nguyễn Đăng H có hiệu lực pháp luật.
[2] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị C – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 301/20247/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thị C.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị C 03 năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 06/7/2024 đến ngày 30/7/2024)
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thị C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND Tp. Buôn Ma Thuột; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Bằng Nguyễn Đình Triết | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Y Thông Kbuôr THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Y Thông Kbuôr |