vanban.org

Bản án 02/2025/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 06/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng C: 20 (hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam, ngày 02/01/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án về ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-PT
Ngày: 06-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Võ Thị Ngọc Dung

Các Thẩm phán:

Ông Phùng Anh Dũng

Ông Phạm Văn Hợp

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Luyện, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 641/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trọng C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Trọng C (tên gọi khác: không có), sinh ngày 16/8/1975 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Phòng 503,C cư B2, Tổ 35, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Đặng Thị K (còn sống); Có vợ là Võ Thị Kim N1 (đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2001); Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 22/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 86/2014/HSPT. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2021.

Nhân thân: Ngày 15/01/2024, bị Công an thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 02/01/2024. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng C: Ông Trần Xuân Vinh - Luật sư Văn phòng luật sư Hòa Phát thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng, là người bào chữa theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tại trước nhà số 109 Bùi Dương Lịch, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Trọng C bị lực lượng Phòng chống ma túy và tội phạm Đồn biên phòng Sơn Trà, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng lập biên bản bắt quả tang về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”

* Tang vật thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu đen, số sim 0935.771.169;

- 01 (một) điện thoại di động Realme màu đỏ và xanh, số sim 0932.508.875;

- 01 (một) xe máy biển số 43E1 – 245.69

- 01 (một) CCCD mang tên Nguyễn Trọng C;

- 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Trọng C;

- 01 (một) ví da màu đen đã qua sử dụng;

- Tiền mặt: 4.614.000 đồng

- 04 (bốn) gói nylong kích thước (2,5x3) cm; 03 (ba) gói nylong kích thước (3x7) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu C1.

Lúc 22 giờ 40 phút ngày 02/01/2024, Bộ đội Biên phòng Sơn Trà, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng khám xét chỗ ở của Nguyễn Trọng C tại Phòng 503,C cư B2, tổ 35, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, thu giữ: 01 (một) cân điện tử màu đen; 02 (hai) ống thủy tinh; 150 (một trăm năm mươi) bao nylong kích thước khoảng (3x7) cm; 01 (một) gói nylong kích thước (7x11) cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Được niêm phong theo quy định pháp luật, ký hiệu: C2.

* Tại Kết luận giám định số: 54/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

- Tinh thể rắn màu trắng trong bì thư ký hiệu C1, C2 đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu C1: 23,767 gam; mẫu C2: 27,494 gam.

Quá trình điều tra xác định:

Ngày 30/12/2023, Nguyễn Trọng C quen biết nam thanh niên tên Lờ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại quán nhậu ở phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là người bán ma túy. Nguyễn Trọng C đã nhiều lần sử dụng số điện thoại 0932.508.875 điện cho Lờ số điện thoại 0775.400.410 được lưu trong danh bạ điện thoại là "L My" hỏi mua ma túy về bán nhưng không có. Ngày 02/01/2024, Nguyễn Trọng C đã liên lạc với Lờ hỏi mua 21.000.000 đồng ma túy đá, Lờ đồng ý và hẹn vào phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam giao nhận ma túy. Nguyễn Trọng C đã điều khiển xe mô tô BKS 43E1-245.69 mượn của Nguyễn Thị Diệu Lan (cháu gái củaC) từ Đà Nẵng vào gặp Lờ tại quán cà phê không rõ địa chỉ, phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, tại đây C giao cho Lờ số tiền 21.000.000 đồng và nhận 08 gói ma túy đá từ Lờ đem về thành phố Đà Nẵng rồi đi nhậu.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, C về Phòng 503,C cư B2, tổ 35, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng lấy một gói cất giấu tại ban công nhà, còn 07 gói ma túy C cất trong túi quần đang mặc. Do nhậu say C chưa kịp phân ma túy ra để bán, lúc này có 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn bè quen ngoài xã hội dùng số điện thoại 0905.410.140 được C lưu tên trong danh bạ điện thoại là "Vi lo" điện vào số 0932.508.875 củaC hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng,C đồng ý bán và hẹn đến đường Bùi Dương Lịch để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô BKS 43E1-245.69 đi giao ma túy cho Vĩ; khiC đi đến trước số nhà 109 Bùi Dương Lịch, Nại Hiên Đông, Sơn Trà, Đà Nẵng thì bị Đồn Biên phòng Sơn Trà bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng C thừa nhận do không tìm được việc làm, để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với phương thức, thủ đoạn: C sử dụng điện thoại liên lạc thống nhất giá cả, số lượng rồi hẹn thời gian, địa điểm giao dịch mua bán ma túy, để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện thì sau khi giao dịch xong, C xóa nội dung tin nhắn, cuộc gọi đi và đến.

Tại n án h nh sự s th m s 120/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Nẵng quyết định:

Xử phạt: Nguyễn Trọng C 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam, ngày 02/01/2024.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trọng C: Số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/11/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng bản án sơ thẩm xử nặng.

Tại phiên tòa phúc th m:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa đề nghị: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, giải quyết vụ án có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Trần Xuân Vinh bào chữa cho bị cáo: đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo còn mẹ già, thuộc diện hộ nghèo.

Ý kiến bổ sung của bị cáo: đề nghị xem xét giảm nhẹ, với lý do bị cáo có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 02/11/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Kháng cáo của bị cáo đảm bảo còn trong thời hạn luật định, đúng hình thức theo quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là đúng. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt quả tang, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 02/01/2024, Nguyễn Trọng C liên hệ mua 08 gói ma túy với giá 21.000.000 đồng của một người tên Lờ (không rõ nhân thân, lai lịch) tại xã Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam rồi mang về chỗ ở của mình tại phòng 503,C cư B2, tổ 35 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để cất giấu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng C mang 07 gói ma túy có khối lượng 23,767 gam loại Methamphetamine đến trước số nhà 109 Bùi Dương Lịch, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để bán cho 01 thanh niên không rõ nhân thân lai lịch thì bị Công an thành phố Đà Nẵng bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên và một số tang tài vật khác. Khám xét chỗ ở củaC, Công an tiếp tục thu giữ 27,494 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Trọng C là 51,261 gam ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố, xét xử là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù bị cáo đã có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị xử phạt 10 năm tù nhưng sau khi ra tù, bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội ở vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với số lượng lớn (trên 50 gam). Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn thành phố, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Ngoài ra, ngày 15/01/2024 đã bị Công an thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, thừa nhận bị cáo mua số ma túy trên với mục đích để bán kiếm tiền tiêu xài và để sử dụng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì gia đình thuộc hộ nghèo, mẹ già và có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức hình phạt 20 (hai mươi) năm tù là đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Trọng C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng C và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

3. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng C: 20 (hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam, ngày 02/01/2024.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trọng C: Số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ