- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Văn Đồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Tuyết H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày 09/01/2025 V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Đình Hoằng
2. Bà Doãn Thị Lệ .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 616/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Tuyết H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn A, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt).
2- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn A, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 7 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Mai Thị Tuyết H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xuân Đ tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Những năm gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc hay xảy ra tranh cãi. Do mâu thuẫn căng thẳng chị và anh Đ sống ly thân hai năm nay, không ai quan tâm và trách nhiệm gì với nhau. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã kéo dài và thực sự trầm trọng, tình cảm giữa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị Mai Thị Tuyết H và anh Nguyễn Xuân Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Xuân H1, sinh ngày 12/10/1998 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 15/11/2007. Ly hôn đối với con chung là Nguyễn Xuân H1 đã trưởng thành tự lập riêng nên không đề cập đến việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung là Nguyễn Xuân T chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị H tự thỏa thuận với anh Nguyễn Xuân Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Xuân Đ: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Xuân Đ đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay, anh Nguyễn Xuân Đ tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng;
Về tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Đảm bảo theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án và hướng giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Chị Mai Thị Tuyết H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con với anh Nguyễn Xuân Đ theo quy định của pháp luật. Đơn khởi kiện của chị H được làm theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý, xem xét. Anh Nguyễn Xuân Đ cư trú tại thành phố P, tỉnh Gia Lai, nên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục lựa chọn hoà giải và lựa chọn Hoà giải viên: Ngày 07/10/2024, người khởi kiện có ý kiến về việc không hoà giải, đối thoại tại Toà án. Vì vậy, Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập anh Nguyễn Xuân Đ đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ đều không đến Tòa án làm việc và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Xuân Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: Chị Mai Thị Tuyết H và anh Nguyễn Xuân Đ tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 12 tháng 11 năm 2004. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H và anh Đ là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị H thì thấy rằng, trong thời gian chung sống giữa chị với anh Đ xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xảy ra cải vả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh Đ sống ly thân, giữa chị và anh Đ không ai quan tâm và trách nhiệm gì với nhau.
Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng nhưng chị H vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản để chị H và anh Đ đến Tòa án tham gia hòa giải đoàn tụ nhưng anh Đ đều vắng mặt chứng tỏ anh Đ không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân của vợ chồng hay không. Như vậy, đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn được nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ là có căn cứ, được chấp nhận.
Về con chung:
Trong thời kỳ hôn nhân, chị Mai Thị Tuyết H và anh Nguyễn Xuân Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Xuân H1, sinh ngày 12/10/1998 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 15/11/2007. Ly hôn đối với con chung là Nguyễn Xuân H1 đã trưởng thành tự lập riêng nên không đề cập đến việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung là Nguyễn Xuân T chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu T ở với chị kể từ khi chị và anh Đ sống ly thân và có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị H khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung là Nguyễn Xuân T cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con chung thành niên và có khả năng tự lập được.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không quyết định.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung:
Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không quyết định.
Về án phí:
Chị Mai Thị Tuyết H là nguyên đơn, phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 94, 144, 146, 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và các điểm a, b Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Tuyết H.
- Về hôn nhân: Chị Mai Thị Tuyết H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Xuân T, sinh ngày 15/11/2007 cho chị Mai Thị Tuyết H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Thời gian giao nuôi con từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
2. Về án phí: Chị Mai Thị Tuyết H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 000517 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luậtthi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tp. P;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục T;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND xã A, TP P, Tỉnh Gia Lai (Giấy CNKH số 56/2004 Đăng ký ngày 12/11/2004);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN –
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Đình Hoằng Doãn Thị Lệ Nguyễn Thị Hồng T1 Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tp. Pleiku;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS Tp Pleiku;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND phường Phù Đổng, TP Pleiku, Tỉnh Gia Lai(Giấy CNKH số 19/2018 ngày 17-3-2018);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ PLEIKU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH GIA LAI
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tô Thị Lành
2. Bà Doãn Thị Lệ
Căn cứ Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Hội đồng xét xử tiến hành thảo luận về việc xét xử, hoãn phiên tòa đối với vụ án dân sự thụ lý số 430/2019/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” giữa:
Nguyên đơn: Chị Võ Trình Mỹ Duyên, sinh ngày 27-8-1993
Địa chỉ: 65 Lê Lợi, thị trấn Phú Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn: Anh Lê Văn Quang, sinh ngày 07-9-1996
Địa chỉ: 66/6 Lý Chính Thắng, tổ 3, phường Chi Lăng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Ý kiến của Hội thẩm nhân dân 1: Tòa án đã triệu tập hợp lệ cho các đương sự trong vụ án đến tham gia tố tụng tại phiên tòa công khai vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019.
Tuy nhiên đến lúc này đã 14 giờ 00 phút ngày 04-9-2019, bị đơn anh Lê Văn Quang vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất. Để đảm bảo quyền lợi cho bị đơn, cần phải hoãn phiên tòa.
Ý kiến hội thẩm thứ hai và chủ tọa phiên tòa nhất trí với ý kiến của Hội thẩm thứ nhất.
Hội đồng xét xử biểu quyết nhất trí hoãn phiên tòa, kết quả biểu quyết: 3/3.
Việc thảo luận kết thúc hồi 14 giờ 10 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019. Đã lập thành biên bản và các thành viên Hội đồng xét xử thống nhất ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku; - Các đương sự; - UBND xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nhàn |