vanban.org

Bản án 02/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh N đối với bị đơn ông Trần Trọng T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn với ông Trần Trọng T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh N đối với bị đơn ông Trần Trọng T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày 03 - 01 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Huỳnh Sinh

2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 502/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1996; (có mặt)

Nơi cư trú: Khu phố C, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Trần Trọng T, sinh năm 1990; (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố C, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn Khởi kiện, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày:

Bà và ông Trần Trọng T tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, vào ngày 12/02/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau tại nhà chồng ở Khu phố C, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống, lúc đầu vợ chồng cũng hạnh phúc nhưng từ năm 2021 đến nay thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do bà và ông T có nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách lối sống, không tìm được tiếng nói chung kèm theo vấn đề kinh tế trong gia đình, ông T quá nặng gia đình mẹ, không chăm lo cho được cho bà và con. Vào năm 2021, bà đã nộp đơn xin ly hôn sau đó rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp tục. Từ tháng 07/2024 đến nay, bà và ông T không còn sống chung với nhau. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng bỏ mặc nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, cũng không ai đặt vấn đề quay trở về chung sống. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn không thể tiếp tục hôn nhân nên bà làm đơn đề nghị ly hôn với ông Trần Trọng T.

Bà và ông Trần Trọng T có một người con chung tên là Trần Minh K, sinh ngày 05/5/2022. Cháu K đang sống cùng bà. Nếu ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, bà đang làm công nhân, thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng, đủ để lo cho con.

Về tài sản chung, nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn với ông Trần Trọng T. Về con chung: Giao con chung là Trần Minh K, sinh ngày 05/5/2022 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N yêu cầu ly hôn với ông Trần Trọng T. Ông T cư trú tại Khu phố C, phường B, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông T. Ông T vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về Quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Trọng T là hoàn toàn tự nguyện, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy Chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà N cho rằng vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vả, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ khoảng tháng 07/2024 đến nay, bà N và ông T đã tự sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai, cũng không ai đặt vấn đề quay trở về chung sống. Tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 23/8/2024, chính quyền địa phương xác định: bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Trọng T đã sống ly thân nhau hơn một tháng nay. Bên cạnh đó, vào năm 2021, bà N đã nộp đơn ly hôn với ông T, sau đó rút lại đơn ly hôn, nay lại tiếp tục xin ly hôn do mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa, bà N xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa, nếu quay về chung sống thì mâu thuẫn vợ chồng sẽ ngày một trầm trọng hơn. Ngoài ra, trong quá trình tiến hành tố tụng, ông T không có ý kiến đối với yêu cầu của bà N, cũng không phản đối chứng cứ do bà N cung cấp (khoản 2 điều 92 của BLTTDS).

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của bà N, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho bà N ly hôn với ông T.

Về nuôi con chung:

Bà N và ông T có một con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 05/5/2022. Xét thấy: từ khi bà N, ông T sống ly thân nhau, cháu K đều do bà N trực tiếp chăm sóc; Cháu K còn quá nhỏ, chưa đủ 03 tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, bà N có thu nhập để lo cho con. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cho bà N trực tiếp nuôi con chung.

Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.

Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh N đối với bị đơn ông Trần Trọng T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn với ông Trần Trọng T.

2. Về con chung:

Giao cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Minh K, sinh ngày 05/5/2022.

Ông Trần Trọng T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí Toà án số 0003039 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Quỳnh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 03/01/2025); vắng mặt bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ