- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Hoài T - Đỗ Văn H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Hoài T được ly hôn anh Đỗ Văn H3.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày 02 - 7 - 2025 Về việc: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Khánh Linh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Đức
2. Bà Hoàng Thị Phụng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Hoài T, sinh năm 1992;
Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã T1, huyện T2, tỉnh T3. (nay là thôn H, xã T4, tỉnh H1).
Chỗ ở hiện nay: tổ 12, phường H2, thành phố T3, tỉnh T3. (nay là tổ 12, phường T5, tỉnh H1) (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn H3, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Hẻm 01, ngách 15, ngõ 112, đường T6, tổ 5, phường T7, thành phố T3, tỉnh T3. (nay là hẻm 01, ngách 15, ngõ 112, đường T6, tổ 5, phường T3, tỉnh H1) (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị Hoài T trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn H3 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện V, tỉnh T3 vào ngày 16/3/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị ở trọ bên phường H2, thành phố T3, tỉnh T3. Đến tháng 12/2023 chị và anh H3 chuyển về nhà trọ tại ngách 15, ngõ 112, đường T6, tổ 5, phường T7, thành phố T3, tỉnh T3. Quá trình chung sống, anh chị chung sống hòa thuận đến tháng 3/3024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào trầm trọng. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên kể từ tháng 6/2024 chị đã chuyển ra ở riêng tại tổ 12, phường H2, thành phố T3, tỉnh T3. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân, không còn quan tâm hỏi han đến nhau nữa. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh H3.
Về con chung: Anh chị có một con chung là Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017. Hiện nay cháu P đang học lớp 2A trường tiểu học L, thành phố T3, tỉnh T3. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H3 cấp dưỡng cho con. Hiện chị T đang làm nhân viên tại Phòng Kế hoạch - Vật tư của Công ty cổ phần bia H4 - T3. Thu nhập bình quân 9.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã gửi, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn, nhưng bị đơn anh Đỗ Văn H3 không đến Tòa án giải quyết và cũng không gửi về Tòa án văn bản trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Biên bản xác minh ngày 02/4/2025, ông Nguyễn Thanh T8 - Cảnh sát khu vực tổ 5, phường T7, thành phố T3, tỉnh T3 cung cấp:
Chị Vũ Thị Hoài T, sinh năm 1992 và anh Đỗ Văn H3, sinh năm 1991 có đăng ký tạm trú tại địa chỉ hẻm 01, ngách 15, ngõ 112, đường T6, tổ 5, phường T7, thành phố T3, tỉnh T3; thời hạn đăng ký tạm trú từ ngày 07/12/2023 đến ngày 05/12/2025.
* Biên bản xác minh ngày 25/4/2025, ông Nguyễn Việt H5 - Tổ trưởng tổ 5, phường T7, thành phố T3, tỉnh T3 cung cấp:
Chị Vũ Thị Hoài T và anh Đỗ Văn H3 có đăng ký kết hôn hợp pháp. Vào khoảng cuối năm 2023 anh H3 chị T chuyển đến địa chỉ hẻm 01, ngách 15, ngõ 112, đường T6, tổ 5, phường T7 để sinh sống. Quá trình sống chung, địa phương không nắm rõ được mâu thuẫn của anh chị. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh H3, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh chị có một con chung là Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017. Nếu ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản: Địa phương không năm sõ, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án xuống làm việc nhưng không gặp anh H3 nên không lấy được lời khai. Hiện tại anh H3 đang cư trú tại địa phương.
* Biên bản lấy lời khai của bà Phan Thị Thanh X1, sinh năm 1974; Trú tại: xóm 9, T9, huyện T10, Thành phố H6, là mẹ đẻ của chị Vũ Thị Hoài T trình bày:
Chị T và anh H3 có kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Bà có nghe chị T tâm sự giữa anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân ngày càng bế tắc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đỉnh điểm vào khoảng tháng 6/2024 do mâu thuẫn căng thẳng nên chị T đã chuyển ra ở riêng tại tổ 12, phường H2, thành phố T3, tỉnh T3. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân, không quan tâm hỏi han đến nhau nữa. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh H3, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Anh chị có một con chung là Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017. Hiện nay cháu P đang ở cùng với chị T. Trường hợp ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ nguyện vọng nuôi con của chị T và anh H3, cũng như theo quy định pháp luật để giải quyết. Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà không có ý kiến gì.
* Biên bản xác minh ngày 28/5/2025, ông Đỗ Văn T11, sinh năm 1961; Địa chỉ: thôn P1 2, xã X, huyện V, tỉnh T3, là bố để của anh Đỗ Văn H3 trình bày:
Anh chị có kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị thuê trọ trên thành phố T3 làm việc và sinh sống. Quá trình chung sống giữa anh chị không có mâu thuẫn gì. Nay Tòa án xuống làm việc, gia đình được biết chị T có đơn xin ly hôn anh H3, gia đình thấy anh chị không có mâu thuẫn gì cả nên không có ý kiến gì. Về con chung: Anh chị có một con chung là Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017. Về tài sản: Anh chị có tài sản chung gì hay có nợ chung gì hay không thì gia đình không biết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị Hoài T ly hôn với anh Đỗ Văn H3. Về con chung: Giao con chung Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017 cho chị Vũ Thị Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H3 không phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H3 không có văn bản nào gửi về Tòa án thể hiện quan điểm của mình về phần tài sản, không có lời khai về phần tài sản nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Thị Hoài T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại tổ 5, phường T7, thành phố T3, tỉnh T3 (nay là tổ 5, phường T3, tỉnh Hưng Yên) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Toà án đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến phiên toà để tham gia tố tụng, nhưng nguyên đơn chị Vũ Thị Hoài T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Văn H3 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt các đương sự.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị Hoài T và anh Đỗ Văn H3 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2016, khi kết hôn anh chị đủ điều kiện kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đã chuyển ra ngoài sinh sống từ tháng 6/2024 đến nay. Chị T và anh H3 đã sống ly hôn từ đó, không còn quan tâm đến nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H3. Quá trình giải quyết, anh H3 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp lời khai, không trình bày quan điểm về quan hệ hôn nhân, điều này thể hiện bản thân anh H3 không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng của chị T, anh H3 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Vũ Thị Hoài T ly hôn anh Đỗ Văn H3 là phù hợp.
Về con chung: Chị Vũ Thị Hoài T và anh Đỗ Văn H3 có một con chung là Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017. Hiện nay cháu đang học lớp 2A trường tiểu học L, thành phố T3 và sinh sống cùng chị T. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H3 cấp dưỡng cho con. Hiện tại chị T có việc làm ổn định, chị làm công nhân ở Công ty cổ phần bia H4 - T3, thu nhập trung bình 8.000.000 đồng/tháng. Quá trình giải quyết, anh H3 không trình bày quan điểm về việc nuôi con. Cháu P có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét điều kiện thực tế hiện nay, xét nguyện vọng của con chung, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên, nên giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H3 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng cho con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H3 cấp dưỡng cho con.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H3 không có văn bản nào gửi Tòa án thể hiện quan điểm của mình về phần tài sản, không có lời khai về phần tài sản nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 235; 238; 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Hoài T được ly hôn anh Đỗ Văn H3.
2. Về con chung: Xử giao con chung Đỗ Vũ Tấn P, sinh ngày 04/10/2017 cho chị Vũ Thị Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Văn H3 không phải cấp dưỡng cho con.
Anh H3 có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con được đặt ra giải quyết khi cần thiết.
3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vũ Thị Hoài T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
(Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình theo biên lai thu số 0000971 ngày 10/3/2025 thành án phí).
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Thị Hoài T và bị đơn anh Đỗ Văn H3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 5 - Hưng Yên; - Phòng THADS khu vực 5 - Hưng Yên; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (UBND xã X, huyện V, tỉnh T3; GCNKH số 25 ngày 16/3/2016). - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Khánh Linh |