- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày 20-01-2025 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Ngọc Qúy
2. Ông Đồng Minh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Qúy Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bà Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 241/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ V, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Minh T, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 11 tháng 11 năm 2024, Bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ V và anh Bùi Minh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 90 cấp ngày 27 thág 12 năm 2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, giữa vợ chồng xảy ra xích mích, cãi vã. Mặc dù đã cố gắng để hàn gắn giữ gìn hạnh phúc nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Hiện nay vợ chồng đã mỗi người sống một nơi, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có con chung duy nhất là Nguyễn Mẫn N – sinh ngày 27 tháng 10 năm 2022. Chị V yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị V yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/tháng, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng, cấp dưỡng lần đầu tiên là ngày 10 tháng 02 năm 2025, cấp dưỡng liên tục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, chị V thay đổi yêu cầu cấp dưỡng, theo đó chị yêu cầu anh T cấp dưỡng 2.500.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.
* Tại phiên tòa bị đơn anh Bùi Minh T thống nhất với chị V về xác lập quan hệ vợ chồng, về con chung. Anh đồng ý ly hôn theo đề nghị của chị V. Về nuôi con anh đồng ý giao con chung cho chị V nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng anh không đồng ý vì hiện tại việc kinh doanh của anh không ổn định, mặt khác do anh đang điều trị vết thương nên anh không đồng ý cấp dưỡng. Về tài sản chung: Anh cũng không đề nghị giải quyết trong vụ án này, mà nếu sau này có tranh chấp thì anh sẽ khởi kiện riêng vụ án khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ V được ly hôn anh Bùi Minh T, giao chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Mẫn N. Về cấp dưỡng nuôi con đề nghị anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng. Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị V yêu cầu ly hôn với anh T - trú tại: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ V và anh Bùi Minh T kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 90 cấp ngày 27 tháng 12 năm 2021. Đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất việc ly hôn, không ai còn muốn hàn gắn. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn hôn nhân giữa các bên là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị V.
Về con chung: Chị V và anh T có 01 con chung duy nhất là Nguyễn Mẫn N – sinh ngày 27 tháng 10 năm 2022. Chị V yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh T cũng đồng ý giao cho chị V nuôi dưỡng.
Xét thấy: Con chung hiện đang do chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu N còn nhỏ nên cần được sống chung với mẹ, vì vậy việc giao cho chị V được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị V.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng, cấp dưỡng lần đầu tiên là ngày 10 tháng 02 năm 2025, cấp dưỡng liên tục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa anh T không đồng ý cấp dưỡng vì việc kinh doanh của anh không ổn định, ngoài ra anh còn đang điều trị bệnh. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định của tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Theo biên bản xác minh ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Công an thị trấn V cung cấp thì anh T có cửa hàng và làm nghề mua bán sửa chữa điện thoại di động có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mức cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng là có căn cứ nên được chấp nhận. Bị đơn anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm đồng)/tháng. Cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng. Cấp dưỡng lần đầu là ngày 10 tháng 02 năm 2025, cấp dưỡng liên tục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi
Về tài sản chung: Chị V, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh T không yêu cầu trong vụ án này nên Hội đồng xét cũng không giải quyết.
Về nợ chung: Chị V, anh T xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị Mỹ V được ly hôn anh Bùi Minh T.
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung duy nhất là Nguyễn Mẫn N – sinh ngày 27 tháng 10 năm 2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh Bùi Minh T cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng, cấp dưỡng lần đầu tiên là ngày 10 tháng 02 năm 2025, cấp dưỡng liên tục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị V, anh T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ V, anh Bùi Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí:
4.1. Chị Nguyễn Thị Mỹ V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007220 ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; chị V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4.2. Anh Bùi Minh T1 chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hoà; - VKSND huyện Vạn Ninh ; - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; - Các đương sự; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tùng |