vanban.org

Bản án 02/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đinh Thị Y về việc “Xin ly hôn” đối với ông Vũ Văn H. *Về hôn nhân: Cho bà Đinh Thị Y được ly hôn ông Vũ Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đinh Thị Y xin ly hôn ông Vũ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGA SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ - ST
Ngày 07/01/2025
V/v "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN -TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Vinh

Bà Dương Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án

Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát ND huyện Nga Sơn tham tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Hiền – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 202/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 , về việc “ Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Y - Sinh năm 1968.

Địa chỉ: Xóm A C, xã V H, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

*Bị đơn: Ông Vũ Văn H - Sinh năm 1946.

Địa chỉ: Thôn A, xã Ng Đ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Phiên tòa bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo nguyên đơn - Bà Đinh Thị Y trình bày:

* Về hôn nhân: Bà và ông Vũ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, khi cưới có đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã Văn Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, ông H thường xuyên uống rượi say sỉn về nhà chửi bới, đánh đập bà và chởi bới bố mẹ, anh em ruột của bà thậm tệ, bà đã cố gắng chịu đựng bỏ qua cho ông H nhiều lần, nhưng ông H không hề thay đổi mà ngày càng đánh đập bà thậm tệ hên, không thể chịu đựng được cuộc sống như vậy, nên bà đã về bên ngoại ở từ năm 2018, từ đó đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay bà Y xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ được, nên bà làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Văn H

* Về con chung: Bà Đinh Thị Y xác định vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Về tài sản và nợ chung: Bà Đinh Thị Y không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

2. Đối với bị đơn – Ông Vũ Văn H:

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần đối với ông Vũ Văn H đến Toà án để giải quyết việc ly hôn với bà Đinh Thị Y. Măc dù đang có mặt tại địa phương ông H đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyêt định dưa vụ án ra xét xử cho ông H. ông H đã nhận, nhưng ông H vẫn không đến tòa án làm việc và thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật.

3. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Đinh Thị Y, cho bà Y được ly hôn ông Vũ Văn H; về con chung: Về án phí: Bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

ơ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu "Ly hôn " giữa nguyên đơn bà Đinh Thị Y và bị đơn ông Vũ Văn H là tranh chấp dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 1, xã Ng Đ, huyện Ng S nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

. Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng như giáoThông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H. Măc dù đang có mặt tại địa phương và đã nhận văn bản, nhưng ông H vẫn không đến tòa án để giải quyết việc bà Y xin ly hôn ông.

Do ông H vắng mặt, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Bà Y vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Sử và đề nghị HĐXX tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã có quyết định mở phiên tòa ngày 19/12/2024, nhưng ông H vắng mặt, để bảo đảm quyền lợi cho ông H Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và thông báo mở lại phiên tòa vào ngày 07/01/2021, ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà Y và ông H.

. Về nội dung vụ án:

*Về hôn nhân: Bà Đinh Thị Y và ông Vũ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, khi cưới có đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã Văn Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H thường xuyên đi uống rượi say sỉn về nhà chửi bới, đánh đập bà và chởi bới bố mẹ, anh em ruột của bà thậm tệ, bà đã cố gắng chịu đựng bỏ qua cho ông H nhiều lần, nhưng ông H không hề thay đổi mà ngày càng đánh đập bà thậm tệ hên, không thể chịu đựng được cuộc sống như vậy, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay bà Y xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn để đoàn tụ được nữa, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Văn H

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông H không đến Tòa án để giải quyết việc bà Y xin ly hôn ông. Nhưng Tòa án đã động viên bà Y nên xem xét lại tình cảm của mình , tìm cách giải quyết mâu thuẫn gia đình để vợ chồng về đoàn tụ, nhưng bà Y cho rằng bà đã cố gắng chịu đựng rất nhiều năm và cũng đã tìm nhiều cách giải quyết, nhưng không có kết quả, nay bà xét thấy không còn tình cảm với ông H nữa, nên bà cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Yên và ông H đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn để đoàn tụ được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Y. Cho bà Y được ly hôn với ông H là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về con chung: Bà Đinh Thị Y xác định vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Nên miễm xét.

* Về tài sản và nợ chung: Bà Đinh Thị Y không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên miễn xét.

.Về án phí: Bà Đinh Thị Y phải nộp án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đinh Thị Y về việc “Xin ly hôn” đối với ông Vũ Văn H.

*Về hôn nhân: Cho bà Đinh Thị Y được ly hôn ông Vũ Văn H.

*Về án phí: Bà Đinh Thị Y phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp theo biên lai thu số: 0005462 ngày 14/10/2024 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn. Bà Y đã nộp đủ án phí DSST.

*Về quyền kháng cáo: Bà Y, ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc) ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ