- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị O xin ly hôn anh Võ Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị O được ly hôn anh Võ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/01/2025. “Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Trọng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Toàn và ông Phạm Hồng Chương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị O, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn 8, LS, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1997; Nơi ĐKNKTT: Thôn TT, xã TA, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; chổ ở hiện nay: Số 17K57, hẻm 17, đường HD, phường VN, Thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, văn bản ghi lời khai nguyên đơn chị Hồ Thị O trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị O kết hôn với anh Võ Văn T trên cơ sở tình yêu tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Có đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2023 tại UBND xã TA, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại nhà cha mẹ chồng ở thôn TT, xã TA, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, lối sống không hợp nhau. Mâu thuẫn trầm trọng đến tháng 01 năm 2024 chị O đem theo con về nhà cha mẹ đẻ ở tỉnh Gia Lai sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay. Hiện nay, chị Hồ Thị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hồ Thị O đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn T.
- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có 01 con chung Võ Hà M, sinh ngày 03/6/2023. Nếu ly hôn chị Hồ Thị O có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, chị O không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và khoản nợ: Chị Hồ Thị O không yêu cầu giải quyết.
2. Theo văn bản ghi lời khai ngày 19/12/2024 bị đơn anh Võ Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T hoàn toàn nhất trí như lời trình bày của chị O về quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh T đồng ý ly hôn với chị O.
- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có một con chung Võ Hà M, sinh ngày 03/6/2023. Nếu ly hôn anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, anh T không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Vì hiện nay chị O đi làm tại Hà Tĩnh, phải gửi con cho bà ngoại ở tỉnh Gia Lai nuôi dưỡng, trong thời gian cháu M sống với bà ngoại, anh T có xin gặp con và đón con về chơi nhưng phía gia đình chị O không đồng ý.
Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo số 01/TB-TA gửi và giao trách nhiệm cho anh Võ Văn T nộp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ như: Xác nhận thu nhập, bản sao hợp đồng lao động của anh Tâm,… và các chứng cứ anh đã trình bày về việc đón, thăm gặp con nhưng phía gia đình chị O không đồng ý. Tuy nhiên cho đến nay (16/01/2025) Tòa án không nhận được tài liệu chứng cứ nào của anh T.
- Về tài sản và khoản nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm đề nghị:
* Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
* Việc giải quyết vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a, b Khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Khoản 1, 2 Điều 81, Khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị O về việc ly hôn với anh Võ Văn T.
2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung Võ Hà M, sinh ngày 03/6/2023 cho chị Hồ Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Hồ Thị O không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét. Anh Võ Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
3. Về tài sản, khoản nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
4. Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Hồ Thị O phải nộp 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữa nguyên đơn chị Hồ Thị O, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn 8, LS, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai và bị đơn anh Võ Văn T, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn TT, xã TA, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Hồ Thị O và bị đơn anh Võ Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị O kết hôn với anh Võ Văn T trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối hay ép buộc, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2023 tại UBND xã TA, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị O và anh T do UBND xã TA cấp và chị O giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay. Chị T làm đơn xin ly hôn, anh T đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho chị Hồ Thị O được ly hôn anh Võ Văn T.
Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có một con chung Võ Hà M, sinh ngày 03/6/2023. Quá trình giải quyết vụ án chị O và anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là hoàn toàn chính đáng. Từ ngày sinh con ra cho đến cuối năm 2023 do vợ chồng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, đến tháng 01 năm 2024 chị O đem theo con về nhà cha mẹ chị O tại tỉnh Giai Lai chăm sóc nuôi dưỡng. Quá trình con ở với chị O đã được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục chu đáo, chị O có nơi ở, có công việc và thu nhập để nuôi dưỡng con. Hơn nữa hiện nay con còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Để tiếp tục đảm bảo cuộc sống và tâm lý ổn định cho cháu, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung Võ Hà M, sinh ngày 03/6/2023 cho chị Hồ Thị O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là có cơ sở theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Hồ Thị O không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị O phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Chị O, anh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a, b Khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Khoản 1, 2 Điều 81, Khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị O được ly hôn anh Võ Văn T.
2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung Võ Hà M, sinh ngày 03/6/2023 cho chị Hồ Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Hồ Thị O không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
Anh Võ Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hồ Thị O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị O đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0007422 ngày 16/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị O và anh Võ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Đức Thọ; - Các đương sự; - THADS huyện Đức Thọ; - UBND xã TA; - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Trọng |