- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Nguyễn Thị Thanh Ph tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 81, 82, và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 tháng 5 năm 2025 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hối
Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Hằng và ông Nguyễn Đình Phượng.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tuấn– Thư ký Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên toà: Ông Y Rin Niê K Đăm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST- DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh Ph - sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Thôn 13, xã T H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk ( có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng H – sinh năm 1998.
Nơi cư trú : Thôn 13, xã T H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt),
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/11/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh Ph trình bày:
Chị Nguyễn Thị Thanh Ph và anh Nguyễn Hoàng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã T H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk ngày 04/11/2020. Trong thời gian chung sống vợ chồng đã có với nhau 01 con chung là Nguyễn Mạnh H - sinh ngày 26/11/2021.
Quá trình chung sống thời gian đầu giữa hai vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì hai vợ chồng mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên giữa hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không thương yêu, quý trọng chăm sóc, giúp đỡ nhau, thường xuyên cãi vã, mắng chửi nhau, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm uy tín của nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị Thanh Ph yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh Ph xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Mạnh H- sinh ngày 26/11/2021, cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Thanh Ph có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng H
Anh H được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án số 177/ TB- TLVA ngày 06/12/2024. Ngoài ra, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 01/TB-TA ngày 19/02/2025; Tuy nhiên anh H vắng mặt không có lý do, nên không thể tiến hành hòa giải được, cũng không có ý kiến gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Trong bản tự khai ngày 16/01/2025, anh Nguyễn Hoàng H cho rằng mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng, đồng ý ly hôn, nhưng anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh Ph cấp dưỡng nuôi con. Anh cũng đề nghị giải quyết về tài sản chung, sẽ làm đơn yêu cầu về tài sản. Tuy nhiên trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày 10/02/2025, anh H không làm đơn yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung, không cung cấp các giấy tờ liên quan về tài sản chung và nợ chung. Do vậy, không có căn cứ để giải quyết tài sản chung, nợ chung theo ý kiến của anh H.
Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến về vụ án và về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
+Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhìn chung vụ án đã được thụ lý và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh Ph.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị tuyên bố chị Nguyễn Thị Thanh Ph ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H; về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Mạnh H - sinh ngày 26/11/2021 đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi); Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đề cập.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Ph phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe nguyên đơn trình bày và yêu cầu, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh Ph xin ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H là quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị Thanh Ph và anh Nguyễn Hoàng H đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 13, xã T H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Anh Nguyễn Hoàng H vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng, chị Nguyễn Thị Thanh Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh Ph và anh Nguyễn Hoàng H là quan hệ hôn nhân tự nguyện không bị ép buộc có đăng ký kết hôn ngày 04/11/2020 tại UBND xã T H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích của hôn nhân không còn, đời sống chung không thể duy trì. Nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh Ph là phù hợp với khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
2.2 Về con chung: cả hai anh chị Nguyễn Thị Thanh Ph và Nguyễn Hoàng H đều có nguyện vọng nuôi con chung là cháu Nguyễn Mạnh Hùng sinh ngày 26/11/2021. Tuy nhiên anh Nguyễn Hoàng H do công việc buôn bán thường xuyên vắng mặt tại địa phương; do đó cần giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Mạnh H sinh ngày 26/11/2021 đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung: Nguyên đơn bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.4 Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Ph phải chịu án phí HNGĐ-ST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 81, 82, và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh Ph.
1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thanh Ph ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H.
2.Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Mạnh H sinh ngày 26/11/2021 đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Nguyễn Hoàng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị Thanh Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Ph phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí HNGĐ-ST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí HNGĐ-ST chị Nguyễn Thị Thanh Ph đã nộp theo biên lai thu số: 0014532 ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn. Chị Nguyễn Thị Thanh Ph đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo theo luật định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo theo luật định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; -Chi Cục THADS huyện Buôn Đôn. - VKSND huyện Buôn Đôn; -UBND xã Tân Hòa, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. - Các đương sự; - Lưu. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Trọng Hối |