vanban.org

Bản án 02/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Viên Thị H.

Buộc vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch phải trả cho bà Viên Thị H số tiền 5.000.000 đồng; 960 kg cà phê nhân xô; 234 kg hạt tiêu khô. Về lãi suất nguyên đơn bà Viên Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Viên Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/DS-ST
Ngày 14/02/2025
V/v: Tranh chấp hợp vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Dhiẽu Hmok và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phi Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 14/02/2025, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2024/TLST-DS ngày 07/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 03/01/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Viên Thị H, sinh năm 1971, vắng mặt;

Địa chỉ: Đường H, tổ dân phố A, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Văn M, sinh năm 1989, có mặt (Văn bản ủy quyền ngày 10/02/2025).

Địa chỉ: Đường H, tổ dân phố A, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Ông Lưu Công Nh, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị Ch, sinh năm 1965 ( ông Nh có mặt, bà Ch vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Đường N, tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Viên Thị H, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày có nội dung như sau: Ngày 30/12/2020 bà Viên Thị H cho vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch vay số tiền 19.600.000 đồng, 960kg cà phê nhân xô, 294kg hạt tiêu khô. Khi vay ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch không thế chấp tài sản gì, cũng không có ai đứng ra bảo lãnh cho khoản vay nêu trên. Hai bên có làm giấy mượn tiền + cà phê + tiêu, thời hạn trả nợ vào ngày 30/02/2021. Khoản vay là tài sản của bà Viên Thị H không liên quan đến chồng, con hay ai khác.Trong quá trình vay đến tháng 7 năm 2022 ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch đã trả cho bà Viên Thị H tổng số tiền là 14.600.000 đồng, số tiền còn nợ là 5.000.000 đồng; đối với số hạt tiêu khô thì đã trả 60kg còn nợ 234kg, đối với số cà phê nhân xô 960kg thì chưa trả. Việc ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch trả nợ bà Viên Thị H có ghi vào 01 tờ giấy trong cuốn sổ tay và đã cung cấp cho Tòa án, ngoài ra bà Viên Thị H còn photocopy giấy mượn tiền + cà phê + tiêu đưa cho ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch một bản để khi ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch trả nợ bà Viên Thị H có ghi vào phía dưới bản photocopy để làm chứng cứ, giấy này ông Lưu Công Nh đã nộp cho Tòa án vào ngày 29/11/2024. Bà không giữ cuốn sổ màu đen ghi lại nội dung đã trả cà phê và hạt tiêu khô, như ông Lưu Công Nh trình bày.

Do ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Viên Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch trả số tiền nợ gốc là 5.000.000 đồng; 960 kg cà phê nhân xô; 234 kg hạt tiêu khô. Bà Viên Thị H không yêu cầu lãi suất đối với khoản nợ nêu trên.

Bị đơn ông Lưu Công Lưu Công Nh trình bày có nội dung: Ông và bà Viên Thị H là hàng xóm, không có quan hệ thân thích. Ông thừa nhận ngày 30/12/2020, ông và bà Đinh Thị Ch vợ ông có ký giấy mượn tiền + cà phê + tiêu, có nội dung ông và bà Đinh Thị Ch nợ bà Viên Thị H 960kg cà phê nhân xô; số tiền 19.600.000 đồng và 294kg hạt tiêu khô, mục đích vay để ông và bà Đinh Thị Ch sản xuất nông nghiệp, khi vay hai bên chỉ viết giấy tay với nhau, không thế chấp tài sản, không ai đứng ra bảo lãnh cho khoản vay, đến nay ông và bà Đinh Thị Ch đã trả một phần nợ, cụ thể:

+ Đối với 960 kg cà phê nhân xô, năm 2022 ông đã trả cho bà Viên Thị H 560kg, còn nợ 400kg, nhưng việc trả nợ ghi vào sổ tay của bà Hồng, ông và bà Đinh Thị Ch không giữ giấy tờ gì.

+ Đối với số tiền 5.000.000 đồng ông thừa nhận còn nợ bà Hồng, đúng như yêu cầu khởi kiện của bà H.

+ Đối với 294 kg hạt tiêu khô, năm 2022 ông đã trả cho bà Viên Thị H 154 kg hạt tiêu khô còn nợ bà Viên Thị H 80kg hạt tiêu khô.

Việc trả nợ cho bà H, ông không có lưu giữ tài liệu, chứng cứ gì, bà Viên Thị H ghi vào một cuốn sổ màu đen của bà H, cuốn sổ hiện này do bà Viên Thị H giữ. Ông cho rằng việc khởi kiện của bà Viên Thị H chưa đúng về số cà phê và hạt tiêu còn nợ vì ông đã trả một phần, do đó ông chỉ đồng ý trả cho bà Viên Thị H số tiền 5.000.000 đồng; 400 kg cà phê nhân xô và 80 kg hạt tiêu khô.

Bị đơn bà Đinh Thị Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch phải trả cho bà Viên Thị H số tiền nợ là 5.000.000 đồng; 960 kg cà phê nhân xô; 234 kg hạt tiêu khô. Về lãi suất bà Viên Thị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 24/9/2024 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, đơn trình bày ý kiến về việc không lựa chọn hòa giải, không lựa chọn hòa giải viên và các tài liệu chứng cứ kèm theo; ngày 03/10/2024 Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 04/10/2024 nguyên đơn nộp tạm ứng án phí, ngày 07/10/2024 nguyên đơn nộp biên lai thu tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Đinh Thị Ch đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Nguyên đơn bà Viên Thị H yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch trả số tiền là 5.000.000 đồng; 960 kg cà phê nhân xô; 234 kg hạt tiêu khô, không yêu cầu tính lãi suất. Hội đồng xét xử, xét thấy ngày 30/12/2020 vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch có ký giấy mượn tiền + cà phê + tiêu, có nội dung ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch mượn của bà Viên Thị H 960kg cà phê khô, số tiền 19.600.000 đồng và 294 kg tiêu khô, thời hạn trả nợ đến ngày 30/02/2021. Ông Lưu Công Nh cho rằng đã trả cho bà Viên Thị H 560kg cà phê nhân xô, 154 kg hạt tiêu khô, chỉ nợ bà Viên Thị H số tiền 5.000.000 đồng, 400kg cà phê nhân xô và 80kg hạt tiêu khô nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Bà Viên Thị H cung cấp chứng cứ trong quá trình vay ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch chỉ trả cho bà Viên Thị H 60 kg hạt tiêu khô và số tiền 14.600.000 đồng, do đó yêu cầu khởi kiện của bà Viên Thị H là có căn cứ

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch phải trả cho bà Viên Thị H số tiền 5.000.000 đồng; 960 kg cà phê nhân xô; 234 kg tiêu khô là phù hợp Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự;

Về lãi suất nguyên đơn bà Viên Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Viên Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.713.050 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001714 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Giá cà phê nhân xô tại thời điểm xét xử là 133.000 đồng/kg x 960 kg = 127.680.000 đồng; giá hạt tiêu khô tại thời điểm xét xử là 160.000 đồng/kg x 234 kg = 37.440.000 đồng do đó bị đơn vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch phải chịu 8.506.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm cụ thể là [Số tiền 5.000.000đồng + giá trị cà phê nhân xô 127.680.000 đồng + giá trị tiêu khô 37.440.000 đồng x 5% = 8.506.000 đồng] là phù hợp với Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Viên Thị H.

Buộc vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch phải trả cho bà Viên Thị H số tiền 5.000.000 đồng; 960 kg cà phê nhân xô; 234 kg hạt tiêu khô.

Về lãi suất nguyên đơn bà Viên Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Nguyên đơn bà Viên Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Viên Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.713.050 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001714 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn vợ chồng ông Lưu Công Nh và bà Đinh Thị Ch phải chịu 8.506.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ