vanban.org

Bản án 02/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T.

Buộc bà Trần Thị Â phải có nghĩa vụ thanh toán trả ông Nguyễn Công T và bà Đỗ Thị Bích N số tiền gốc còn nợ là: 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) và lãi chậm trả của số tiền gốc 260.000.000đ tính từ ngày 26/6/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2025 là 223.145.000đ (Hai trăm hai mươi ba… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Nguyễn Công T khởi kiện bà Hà Thị Â về hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/DS-ST
Ngày 08/01/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hải Đăng

2. Ông Lục Viết Sang

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Duy Tùng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bộ- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2024/TLST- DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Â, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Bích N, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn (ông Nguyễn Công T) trình bày:

Do có quan hệ quen biết nên ông T có cho bà Trần Thị Â, ở tại địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vay 2 khoản tiền, lần 1 ngày 29/4/2015 âm lịch (tức ngày 15/6/2015 dương lịch) là 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng); lần 2 vào ngày 13/5/2016 âm lịch (tức ngày 17/6/2016 dương lịch) là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); tổng 2 lần vay là 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) tiền gốc, cả hai lần vay thời hạn vay đều là 10 ngày. Từ đó đến nay ông T có đòi nhiều lần nhưng không đòi được. Vì vậy, ông T khởi kiện, yêu cầu bà Â phải trả cho ông T số tiền gốc và tiền lãi chậm trả trên số nợ gốc, với mức lãi suất 10%/năm. Trong bản tường trình ngày 01/11/2024 ông T do ông T tính nhầm số tiền lãi chậm trả, ông T có yêu cầu bà Â phải trả ông T số tiền lãi của số tiền gốc 260.000.000 đồng là 486.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền gốc 10.000.000 đồng là 11.400.00 đồng, đến nay ông T đã tính lại và xác định lại như sau: Số tiền lãi của số tiền gốc 260.000.000 đồng tính từ ngày hết thời hạn vay 10 ngày là tính từ ngày 10/5/2015 âm lịch (tức ngày 26/6/2015) là 9 năm 4 tháng 7 ngày 243.100.000 (Hai trăm bốn mươi ba triệu một trăm nghìn đồng), tổng cả số tiền gốc và số tiền lãi của khoản vay 260.000.000 là: 503.100.000 đồng (Năm trăm lẻ ba triệu một trăm nghìn đồng). Số tiền lãi của khoản vay 10.000.000 đồng được tính từ ngày hết thời hạn vay 10 ngày được tính từ ngày 23/5/2016 âm lịch (tức ngày 27/6/2016 dương lịch) là 8 năm 4 tháng 6 ngày 8.300.000 đồng; tổng cả số tiền gốc và số tiền lãi chậm trả của khoản vay 10.000.000 đồng là 18.300.000 đồng (Mười tám triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng cả số tiền gốc và tiền lãi của 02 khoản vay, ông T yêu cầu bà Â phải trả là: 521.400.000 đồng (Năm trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng). Ngoài ra ông T không có yêu cầu nào khác.

Trước ngày mở phiên tòa, ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông T yêu cầu bà Â phải trả cho ông T số tiền vay gốc còn nợ là 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả của 02 hợp đồng vay nêu trên với mức lãi suất 9%/năm, thời hạn tính lãi chậm trả tính từ ngày quá hạn của cả hai hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm, số tiền lãi cụ thể đề nghị Tòa án xem xét.

Bị đơn (bà Trần Thị Â): Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và cũng không gửi ý kiến, văn bản đến Tòa án, vì vậy không có lời khai trong hồ sơ. Tòa án đã giao trực tiếp các thông báo, giấy triệu tập, bà Â đã nhận thông báo, giấy triệu tập của Tòa án nhưng vẫn không có văn bản, ý kiến phản hồi gì về việc ông T có đơn khởi kiện đối với bà Â.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Đỗ Thị Bích N) trình bày: Số tiền ông T cho người khác vay đều là lấy từ khối tài sản chung của vợ chồng, việc ông T cho ai vay tiền bà không can thiệp nên bà N không được biết, đề nghị Tòa án cho bà N vắng mặt trong các buổi làm việc.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng theo quy định; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cơ bản đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn là bà Trần Thị Â chưa chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều: 281, 471; 474; 476; 478 của Bộ luật dân sự năm 2005; các Điều: 275; các Điều: 463, 466, 470; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 33, Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T.

Buộc bà Trần Thị Â phải có nghĩa vụ thanh toán trả ông Nguyễn Công T và bà Đỗ Thị Bích N số tiền gốc còn nợ là: 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) và lãi chậm trả của số tiền gốc 260.000.000đ tính từ ngày 26/6/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2025 là 223.145.000đ (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), lãi chậm trả của số tiền gốc 10.000.000đ tính từ ngày 27/6/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2025 là 7.680.000đ (Bẩy triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng), tổng cộng là 500.825.000đ (Năm trăm triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Công T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Â.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Bà Trần Thị Â là bị đơn đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai và đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự có tên nêu trên.

. Về quan hệ tranh chấp:

Căn cứ đơn khởi kiện của ông Nguyễn Công T đây xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.1. Ông Nguyễn Công T và bà Trần Thị Â tự nguyện thỏa thuận cho nhau vay tiền theo hợp đồng vay đề ngày 29/4/2015 âm lịch (tức ngày 15/6/2015 dương lịch) và ngày 13/5/2016 âm lịch (tức ngày 17/6/2016 dương lịch), được xác nhận là hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

.2. Xét yêu cầu của ông Nguyễn Công T yêu cầu bà Trần Thị Â phải trả số tiền vay gốc là 270.000.000đ (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng), thấy rằng: Ông T xác định sau khi ký kết hợp đồng vay tài sản ông T đã giao đủ cho bà Â tổng số tiền là 270 triệu đồng, bà Â đã nhận đủ tiền vay. Theo thỏa thuận, đến hạn ông T đã yêu cầu bà Â thu xếp trả tiền cho ông T nhưng bà Â không trả được cho ông T số tiền nào.

Đối với bà Â đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án để làm việc cũng như không có văn bản, ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là tự tước bỏ đi quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho bà Â được thực hiện, vì vậy hậu quả của việc bà Â không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Â phải gánh chịu.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì tình tiết “một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, xác định việc bà Â còn nợ của ông T số tiền vay gốc là 270.000.000đ (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) là có căn cứ, cần buộc bà Â phải có trách nhiệm thanh toán trả ông T, bà N số tiền này.

.3. Xét yêu cầu của ông Nguyễn Công T yêu cầu bà Trần Thị Â phải trả số tiền lãi phát sinh trên số tiền vay gốc 270 triệu đồng tính từ ngày bà Â chậm trả theo thỏa thuận của 02 hợp đồng vay, cụ thể 260 triệu là ngày 26/6/2015 và 10 triệu là ngày 27/6/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm, ông T yêu cầu bà Â phải thanh toán tiền lãi theo mức 9%/1 năm, thấy rằng: Đối với số tiền bà Â vay của ông T ở 02 hợp đồng vay, cụ thể ngày 15/6/2015 là 260 triệu và ngày 17/6/2016 là 10 triệu đồng, trong hợp đồng thể hiện không tính lãi, thời hạn của 02 hợp đồng đều là 10 ngày, nên xác định là hợp đồng vay có kỳ hạn và không lãi suất. Vì vậy, trong thời hạn của hợp đồng không phát sinh tiền lãi. Hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng do bà Â không thanh toán trả cho ông T được số tiền vay gốc nào nên bà Â phải chịu lãi suất chậm trả trên số nợ gốc để thanh toán trả cho ông T tính kể từ sau ngày hết hạn thỏa thuận trong hợp đồng là ngày 26/6/2015 đối với số tiền 260 triệu đồng, ngày 27/6/2016 đối với số tiền 10 triệu đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm các đương sự không có yêu cầu áp dụng các quy định về thời hiệu, vì vậy bà Â phải thanh toán tiền lãi trả cho ông T theo quy định tại khoản 5 Điều 474 và khoản 2 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005 là lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời hạn trả nợ. Tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng N1 quy đinh mức lãi suất cơ bản là 9%/năm. Do đó, bà Â phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất là 9%/1 năm tương ứng với số tiền và thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ theo yêu cầu của ông T là từ ngày 26/6/2015 đối với số tiền 260 triệu đồng, ngày 27/6/2016 đối với số tiền 10 triệu đồng đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2025. Số tiền lãi của hợp đồng vay tài sản được xác định cụ thể là:

+ Số tiền gốc 260.000.000đ, lãi tính từ ngày 26/6/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm: 08/01/2025 là 114 tháng 13 ngày, số tiền lãi là {(260.000.000đ x 9% x 114 tháng : 12 = 222.300.000đ) + (260.000.000đ x 9% : 12 x 13 ngày : 30 = 845.000đ)}= 223.145.000đ (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

+ Số tiền gốc 10.000.000đ, lãi tính từ ngày 27/6/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm: 08/01/2025 là 102 tháng 12 ngày, số tiền lãi là {(10.000.000đ x 9% x 102 tháng : 12 = 7.650.000đ) + (10.000.000đ x 9% : 12 x 12 ngày : 30 = 30.000đ)}= 7.680.000đ (Bẩy triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

Như vậy, số tiền bà Â còn nợ của ông T tiền vay gốc, tiền lãi quá hạn của hợp đồng được xác định là: 260.000.000đ + 10.000.000đ + 223.145.000đ + 7.680.000đ = 500.825.000đ (Năm trăm triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng), cần buộc bà Trần Thị Â phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông Nguyễn Công T và bà Đỗ Thị Bích N.

. Về án phí: Yêu cầu của ông Nguyễn Công T được chấp nhận, vì vậy ông Nguyễn Công T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Đối với bà Trần Thị Â là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều: 281, 471; 474; 476; 478 của Bộ luật dân sự năm 2005; các Điều: 275; các Điều: 463, 466, 470; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 33, Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T.

Buộc bà Trần Thị Â phải có nghĩa vụ thanh toán trả ông Nguyễn Công T và bà Đỗ Thị Bích N số tiền gốc còn nợ là: 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) và lãi chậm trả của số tiền gốc 260.000.000đ tính từ ngày 26/6/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2025 là 223.145.000đ (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), lãi chậm trả của số tiền gốc 10.000.000đ tính từ ngày 27/6/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2025 là 7.680.000đ (Bẩy triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng), tổng cộng là 500.825.000đ (Năm trăm triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Công T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Â.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án vắng mặt hợp lệ.

Cỡ chữ