- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V; - KHCN MB1 ngày 17/12/2024. (có mặt) * Bị đơn: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1979 và ông Nghiêm Xuân…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/DS- ST Ngày 17 tháng 01 năm 2025 V/v “T/c hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Văn Thắng
2. Bà Nguyễn Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2024/TLST – DS ngày 01/11/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-DS ngày 25/12/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-DS ngày 06/01/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V; địa chỉ trụ sở: số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí Dũng - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hồng Bắc – Chức danh: Trưởng phòng xử xử lý nợ phản ứng nhanh khách hàng cá nhân; Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Ngụy Thế Trung theo Văn bản ủy quyền số 17/2024/UQN – LCC- KHCN MB1 ngày 17/12/2024. (có mặt)
* Bị đơn: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1979 và ông Nghiêm Xuân T, sinh năm 1972; cùng thường trú: xóm 4, thôn H, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội. (vắng mặt liên tiếp lần thứ 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn, cũng như bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Ngụy Thế Trung trình bày: Bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T vay vốn của VPBank theo các hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
1. Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022. Số tiền vay: 610.000.000 đồng; Thời hạn vay: 96 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên Vay; Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu TOYOTA ALTIS (ZRE211L-GEXGGU), 1.8L, CVT sản xuất mới 100%; Lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9,5%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày); Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân (thời gian cố định). Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu tiên quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng được Bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.vpbank.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.6%/năm; Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Dư nợ tạm tính đến ngày 23/09/2024 là: Nợ gốc: 489.273.954 đồng; Nợ lãi và lãi chậm trả: 35.727.999 đồng; Tổng cộng: 525.001.953 đồng.
2. Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày ngày 07/09/2023. Số tiền cho vay: 160,000,000 đồng Thời hạn cho vay: 60 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là: 12%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày); Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân (“Thời gian cố định”). Hết Thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau Thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 60 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại nhân kỳ hạn 60 tháng được Bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.vpbank.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 2.5%/năm; Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Dư nợ tạm tính đến ngày 23/09/2024 là: Nợ gốc: 146.665.000 đồng; Nợ lãi + lãi chậm trả: 11.155.632 đồng; Tổng cộng: 157.820.632 đồng.
* Tài sản bảo đảm của khoản vay nêu trên là: 01 xe nhãn hiệu TOYOTA ALTIS; số máy: 2ZRY884995; số khung: MR2BL3BE301001382 BKS: 30H-751.33. Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT CA Hà Nội cấp. Thuộc quyền sở hữu của Bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ… được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp theo Hợp đồng đã ký. Bằng việc ký Hợp đồng cho vay nói trên, bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T xác nhận đồng ý chấp nhận các điều khoản và điều kiện tại “Điều Kiện Giao Dịch Chung” về cho vay và thế chấp xe ô tô áp dụng đối với Khách hàng cá nhân vay từng lần, giải ngân một lần tại VPBank để mua xe ô tô và khoản vay được bảo đảm bằng tài sản bảo đảm là xe ô tô của chính khách hàng. Điều kiện giao dịch chung bao gồm những điều khoản ổn định do VPBank niêm yết công khai tại trụ sở VPBank và trên website http://vpbank.com.vn
Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký.
Để bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết các vấn đề sau:
a. Yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T phải thanh toán cho VPBank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 17/01/2025 khoản vay này là: Nợ gốc: 635.938.954 đồng; Nợ lãi phải trả: 116.770.310 đồng; Tổng cộng: 752.709.264 đồng.
b. Buộc bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T phải chịu lãi suất theo các Hợp đồng cho vay đã ký cho đến ngày bà Dịu và ông Thịnh thực tế thanh toán hết khoản nợ cho VPBank.
c. Yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án: VPBank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ nếu bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho VPBank, cụ thể như sau:
- 01 xe nhãn hiệu TOYOTA ALTIS; số máy: 2ZRY884995; Số khung: MR2BL3BE301001382 BKS: 30H-751.33. Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT CA Hà Nội cấp. Thuộc quyền sở hữu của bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ… được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp theo Hợp đồng đã ký. Chi tiết hợp đồng thế chấp đã ký giữa bà Dịu và ông Thịnh với VPBank.
Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, VPBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của bà Dịu và ông Thịnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VPBank cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ
d. Bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.
* Bị đơn là bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T đều được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do và không thể hiện quan điểm giải quyết vụ án.
Trong quá trình thụ lý và giải quyết Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của đương sự; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Do bị đơn không đến làm việc, vì vậy Tòa án không hòa giải được cho các đương sự.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày 06 tháng 01 năm 2025 bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ 1. Phiên tòa được mở lại vào ngày ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”. Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T phải thanh toán cho VPBank tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/01/2025 theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 là 752.709.264 đồng; bao gồm 635.938.954 đồng nợ gốc; 116.770.310 đồng nợ lãi; Và buộc bị đơn tiếp tục phải chịu lãi suất kể từ ngày 18/01/2025 theo lãi được thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 cho đến khi bị đơn trả hết nợ.
Đối với Hợp đồng thế chấp số: LN2308260109383 ngày 07/9/2023, bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T đã tự nguyện dùng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng tại Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp nêu trên được giao kết theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án yêu cầu thanh toán số nợ tín dụng theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 được ký giữa VPBank với bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T, mục đích vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu TOYOTA ALTIS (ZRE211L-GEXGGU), 1.8L, CVT sản xuất mới 100%. Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn là bà Dịu và ông Thịnh có địa chỉ tại xã Hoà Thạch, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Do bị đơn không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng khi đến hạn trả nợ từ ngày 15/6/2024, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ nhưng bị đơn không trả được nợ. Vì vậy, ngày 02/10/2024, VPBank đã khởi kiện bà Dịu và ông Thịnh đến Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không có căn cứ để xem xét.
Trong vụ án này: Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp; giao dịch dân sự giữa các đương sự được thực hiện khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, vì vậy vụ án được áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.
[2] Về nội dung: Căn cứ theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 được ký giữa VPBank với bị đơn; Hợp đồng thế chấp số: LN2308260109383 ngày 07/9/2023 được ký giữa Bên thế chấp và Ngân hàng. Theo đó VPBank đã giải ngân cho bị đơn số tiền vay thông qua khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Dịu và ông Thịnh đã trả nợ được cho VPBank số tiền: Gốc: 134.061.046 đồng; Lãi: 111.227.096 đồng. Bà Dịu và ông Thịnh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/6/2024. Vì vậy, VPBank đã chuyển toàn bộ nợ của bà Dịu và ông Thịnh sang nợ quá hạn theo quy định. Và từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến nay bị đơn không trả bất cứ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho VPBank.
[3] Tại phiên tòa hôm nay, VPBank xác nhận bị đơn còn nợ số tiền tính đến ngày 17/01/2025 là: 752.709.264 đồng; bao gồm: 635.938.954 đồng nợ gốc và 116.770.310 đồng nợ lãi;
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 được các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng này, các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng, tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 15/6/2024 nên VPBank khởi kiện buộc bị đơn phải thanh toán cho VPBank số tiền còn nợ tính đến ngày 17/01/2025 là: 752.709.264 đồng. Trong đó, nợ gốc: 635.938.954 đồng nợ gốc và 116.770.310 đồng nợ lãi. Cụ thể: Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 gồm nợ gốc: 489.273.954 đồng và 95.735.518 đồng nợ lãi; Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 gồm nợ gốc: 146.665.000 đồng và 21.034.792 đồng nợ lãi;
Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn trong các hợp đồng tín dụng là đúng, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên việc VPBank khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ trên là có căn cứ và được chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của VPBank: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn không thanh toán trả cho Ngân hàng nợ gốc và nợ lãi theo thoả thuận thì VPBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án. Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng thế chấp số: LN2308260109383 ngày 07/9/2023 được ký giữa bên thế chấp và VPBank. Tài sản thế chấp là: 01 xe nhãn hiệu TOYOTA ALTIS; Số máy: 2ZRY884995; số khung: MR2BL3BE301001382 BKS: 30H-751.33. Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 000237 ngày do phòng CSGT CA Hà Nội cấp ngày 05/7/2022 cho ông Nghiêm Xuân T.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ giữa bị đơn, VPBank là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật; bà Dịu và ông Thịnh cũng tự nguyện thế chấp tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng. Việc bị đơn ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do vậy có đủ căn cứ để xác nhận các hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lý. Yêu cầu của VPBank đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì VPBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
- Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
- Vì các căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều Điều 317, 318, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”. Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Buộc bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 tạm tính đến ngày 17 tháng 01 năm 2025 là: 752.709.264 đồng. Trong đó, nợ gốc: 635.938.954 đồng nợ gốc và 116.770.310 đồng nợ lãi. Cụ thể: Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 gồm nợ gốc: 489.273.954 đồng và 95.735.518 đồng nợ lãi; Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 gồm nợ gốc: 146.665.000 đồng và 21.034.792 đồng nợ lãi;
Kể từ ngày 18 tháng 01 năm 2025, bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại theo Hợp đồng cho vay số LN2206075930320 ký ngày 06/07/2022 và Hợp đồng cho vay số LN2308260109383 ký ngày 07/09/2023 mà hai bên đã ký.
Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn cho vay.
2. Trường hợp bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T không trả được nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: 01 xe nhãn hiệu TOYOTA ALTIS; số máy: 2ZRY884995; Số khung: MR2BL3BE301001382 BKS: 30H-751.33. Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 000237 ngày do phòng CSGT CA Hà Nội cấp ngày 05/7/2022 cho ông Nghiêm Xuân T.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư Ngân hàng phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho Ngân hàng số tiền còn thiếu.
3. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Bùi Thị D và ông Nghiêm Xuân T phải chịu 34.108.371 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Toà án ngày 01 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 17 tháng 01 năm 2025. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai; - Chi cục THA dân sự huyện Quốc Oai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Long |