vanban.org

Bản án 02/2024/HSST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn N 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 30/10/2023, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 534/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,068g ma tuý, loại Metha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn N (Tàng trữ trái phép chất ma túy) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSST
Ngày: 16/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bách.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và ông Nguyễn Văn Bạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức- Kiểm sát viên.

Ngày 16/01/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/TLST-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02/01/2024, đối với bị cáo: Bùi Văn N- sinh năm 1990;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: KDC M, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ Bùi Văn C, mẹ đẻ Bùi Thị T; Vợ là Nguyễn Thị H; Có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/10/2023 đến ngày 02/11/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương- lưu tại nhà tạm giữ Công an thành phố Chí Linh.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn N1- sinh năm 1989.

+ Ông Nguyễn Công T- sinh năm 1965.

(Đều Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 35 phút, ngày 30/10/2023, Bùi Văn N đi bộ từ nhà đến khu vực đường H, thuộc KDC TĐ, phường S, thành phố Chí Linh để mua ma túy sử dụng. N gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch và hỏi mua 300.000đ được 01 gói ma túy. N cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái và đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi N đi đến trước cửa nhà số 40, đường H thì N nhìn thấy lực lượng công an thành phố Chí Linh nên đã sợ hãi và thả gói ma túy xuống đất nhưng vẫn bị phát hiện bắt quả tang, đã thu giữ tại mặt đất cách vị trí N 60cm: 01 gói giấy quấn băng dính màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (0,8x2,5)cm, bên trong túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. N khai chất tinh thể màu trắng là ma túy N vừa mua để sử dụng cho bản thân.

Tại bản kết luận giám định số 534/KL-KTHS, ngày 02/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể), màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là 0,139g là ma túy, loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-CL, ngày 28/12/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Bùi Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Văn N thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xử bị cáo mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/10/2023; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 534/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,068g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 gói giấy màu trắng bên ngoài được quấn băng dính màu đen; 01 túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng anh N và ông T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ, ngày 30/10/2023, tại trước cửa nhà số 40 đường H, KDC TĐ, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, bị cáo Bùi Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,139g ma túy loại Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Bùi Văn N là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện với khối lượng ma túy 0,139g, loại Methamphetamine. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:

5.1. Bị cáo Bùi Văn N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

5.2. Bị cáo Bùi Văn N trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo Bùi Văn N khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại phong bì niêm phong số 534/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,068g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 gói giấy màu trắng bên ngoài được quấn băng dính màu đen; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Methamphetamine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 gói giấy màu trắng bên ngoài được quấn băng dính màu đen; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật không có giá trị sử dụng. Do vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người liên quan: Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo N nhưng không rõ đặc điểm, căn cước nên chưa có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn N 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 30/10/2023, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 534/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,068g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 gói giấy màu trắng bên ngoài được quấn băng dính màu đen; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ