vanban.org

Bản án 02/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng K - Công an t nh H số: 543/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,145g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Mạnh- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:02/2024/HSST
Ngày: 18/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quang Lịch;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh và bà Vũ Thị Thuỳ Đông.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ s Tòa án nhân dân tha nh phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/HSST - QĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn M, sinh năm: 1979; Sinh trú quán: Đ, thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Văn M1, con bà Đinh Thị L (đã chết). gia đình bị cáo có 5 anh em bị cáo là thứ tư; vợ Lê Kim T (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/11/2016 bị Công an thành phố H, t nh Hưng Yên ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 17/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, t nh Hưng Yên xử 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 19/6/2020 M đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tạị Nhà tạm giữ - Công an thành phố H.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Ông Hoàng Văn T1

- Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước t nh H.

- Người làm chứng: Anh Dương Đức T2, sinh năm 1989.

HKTT: Thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ15 phút ngày 07/10/2023 tại đường bê tông thuộc đội E, thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên, tổ công tác Công an xã H, thành phố H bắt quả tang Đỗ Văn M, sinh năm 1979, trú tại đội E, thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra đã phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của M có 01 vỏ túi xi lanh, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất màu trắng dạng cục, bột. M khai nhận chất màu trắng dạng cục, bột là ma túy, loại H, M cất giấu để sử dụng. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa M về trụ s để làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng cục, bột; 01 vỏ túi xi lanh.

Quá trình điều tra Đỗ Văn M khai: Khoảng 5 giờ 30 ngày 07/10/2023 M đi bộ một mình từ nhà thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên đến khu vực thôn B, xã T, huyện T, t nh Hưng Yên để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Khi đi đến khu vực ngã tư B, xã T thì M nhìn thấy 01 nam thanh niên (M không biết tên, tuổi, địa ch ) có dáng vẻ giống người nghiện ma túy nên M đi đến nói chuyện và hỏi người thanh niên “Anh có hàng không để cho em một trăm”, ý M hỏi mua ma túy của người nam thanh niên này với số tiền 100.000 đồng. Người nam thanh niên trả lời “Có”. M đưa 100.000 đồng cho người nam thanh niên. Người nam thanh niên cầm tiền và đưa lại cho M 01 gói giấy bạc, M m ra xem thì thấy bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột, do trước đó M đã sử dụng ma túy nên M biết đó là H1. M cầm gói giấy bạc chứa Heroine cho vào vỏ túi nilon (túi nilon đã cũ, rách dùng để đựng bơm kim tiêm xi lanh) mà M đã để trong túi từ trước. Sau đó M cầm gói ma túy trên tay trái để đi về và tìm nơi sử dụng còn người thanh niên bán ma túy cho M bỏ đi đâu M không biết. Đến khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày khi M đi về đến đường bê tông thuộc đội E, thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên thì bị Công an xã H, thành phố H kiểm tra thu giữ 01 gói ma túy. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa M2 trụ s để làm việc.

Ngày 07/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Đỗ Văn M. Kết quả M dương tính với chất ma túy, loại Heroine.

Ngày 07/10/2023 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H đã khám xét khẩn cấp chỗ của Đỗ Văn M tại đội E, thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 543 ngày 10/10/2023 của Phòng K - Công an t nh H, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có khối lượng là 0,150 g là ma túy loại: Heroine. H2 lại trong một niêm phong ghi số: 543/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,145g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho Đỗ Văn M. Qúa trình điều tra M khai đây là lần đầu tiên mua ma túy của người nam thanh niên, M không biết tên, tuổi, địa ch của người này. Mặt khác việc mua bán ma túy giữa M và người thanh niên này không có ai biết, chứng kiến, không có tài liệu gì chứng minh. Do đó, Cơ quan điều tra không xác định được người nam thanh niên đã bán ma túy cho M là ai, không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Về xử lý vật chứng: 01 niêm phong ghi số: 543/KL-KTHS(MT) của Phòng K - Công an t nh H, bên trong có 0,145g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định đang được lưu giữ tại kho vật chứng Công an thành phố H chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra bị cáo Đỗ Văn M thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-TPHY ngày 29/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo M đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người đúng tội không bị oan sai, đồng thời bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hư ng mức án thấp nhất để cải tạo tốt sớm được tr về với gia đình và xã hội.

- Người bào chữa cho bị cáo ông T1: Hoàn toàn nhất trí với tội danh mà VKS đã truy tố. Sau khi phân tích đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của BLHS và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng, đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đỗ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/10/2023. Miễn. hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng K - Công an t nh H số: 543/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,145g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

- Về án phí: Bị cáo là hộ cận nghèo, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục như ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ( BL 34 - 36); Biên bản niêm phong vật chứng thu giữ được ( BL 37); Bản Kết luận giám định số 543/KL-KTHS (MT), ngày 10/10/2023 của Phòng K - Công an t nh H ( BL33), phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Dương Đức T2 ( BL 35 và BL 74

- 77) cùng với các tài liệu khác có liên quan trong hồ sơ vụ án, nên đã đủ căn cứ kết luận: Hồi 06 giờ 15 ngày 07/10/2023 tại đường bê tông thuộc đội E, thôn Đ, xã H, thành phố H, t nh Hưng Yên Đỗ Văn M đã tàng trữ trái phép 0,150 g là ma túy loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là chính xác, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có bố đẻ là ông Đỗ Văn M1 được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba; ông M1 là thương binh hạng 4/4, nên bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

[4] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 17/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, t nh Hưng Yên xử 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như vậy bị cáo đã được nhà nước giáo dục bằng hình phạt tù về ma túy nên bị cáo nhận thức rất rõ việc sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, nên cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học chung trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định là hộ cận nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp:

- Về vật chúng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng K - Công an t nh H số: 543/KL -KTHS(MT), bên trong có 0,145g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. [7] Về Án phí: Qua xác minh tại UBND xã H, thành phố H đã xác định bị cáo được hư ng trợ cấp hộ cận nghèo ( BL 70), nên miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH. [8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH. [2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 01 ( Một) năm 09 ( Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/10/2023. [3] Biện pháp tư pháp:

- Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng K - Công an t nh H số: 543/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,145g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

( Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng của cơ quan điều tra giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hưng Yên). [4] Về Án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. [5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ