- Tranh chấp gì? án hình sự — "Khương Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Khương Văn T 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -------------------------------------------------------------------------------------------- Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 16-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính.
Ông Lã Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lương Quỳnh Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; điểm cầu thành phần: Trại tạm giam thành phố Hải Phòng; xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Khương Văn T, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1986 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khương Văn T1 và bà Dương Thị N; có vợ là chị Nguyễn Thị N và có 01 con; Tiền án: Bản án số 32/2019/HS-ST ngày 20/3/2019 của TAND quận Lê Chân xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 1083 ngày 02/7/2013 của UBND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng; bị tạm giữ ngày 18/9/2023, chuyển tạm giam ngày 21/9/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18/9/2023, Khương Văn T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 15M1-033.67 đến khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng gặp một người đàn ông không quen biết và mua Heroine của người này với giá 200.000 đồng được 02 gói giấy màu trắng. T cất cất giấu ma túy vào túi quần bên trái phía trước rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực cổng chợ Sắt, phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Kiến An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của T 02 gói ma túy và chiếc xe mô tô. Khám xét nơi ở của T, Công an không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản liên quan.
Kết luận giám định số 740/KLGĐ-MT ngày 21/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Khương Văn T gửi giám định là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,26 gam.
Lượng ma túy còn lại sau giám định và các vỏ bao bì được đựng trong 01 bì thư niêm phong được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An quản lý.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 15M1-033.67 đã thu giữ của T được giám định cho kết quả số khung và số máy của xe bị tẩy xóa, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của xe. Để có cơ sở xử lý, Cơ quan điều tra đã tách khỏi vụ án nội dung xác minh, làm rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô.
Người đàn ông bán ma túy cho T ngày 18/9/2023 hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã ra Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 28/12/2023 truy tố Khương Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo. Kiểm sát viên đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo và các vấn đề cần giải quyết của vụ án, cụ thể:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khương Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định.
- Về nghĩa vụ nộp án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Khương Văn T khai nhận cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2010 và thường xuyên đi mua ma túy để sử dụng. Năm 2013, bị cáo đã bị bắt buộc đi cai nghiện nhưng sau khi hết thời gian cai nghiện bắt buộc bị cáo lại tiếp tục sử dụng. Số tiền mua ma túy là do bị cáo đi làm có được. Chỉ một mình bị cáo đi mua ma túy, không liên quan đến người khác. Chiếc xe mô tô bị cáo mượn của một người tên Khánh nhưng bị cáo không biết rõ họ tên và địa chỉ của người này. Bị cáo rất hối hận về việc bản thân nghiện ma túy mà không cai được và đã phạm tội. Bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất để bị cáo cải tạo, cai nghiện và sớm hòa nhập xã hội.
Căn cứ quá trình tranh tụng, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Khương Văn T
Về mặt khách quan: Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 18/9/2023, tại khu vực cổng chợ Sắt, phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Khương Văn T đã có hành vi mua và cất giữ 0,26 gam ma túy Heroine trong túi quần để sử dụng cho bản thân, không có mục đích nào khác.
Về mặt chủ quan: Bị cáo T nhận thức được cất giữ ma túy để sử dụng mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép là trái pháp luật nhưng vì bị cáo nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện việc mua và cất giữ ma túy. Như vậy, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp.
Về mặt khách thể: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của pháp luật về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy.
Về mặt chủ thể: Bị cáo T sinh ngày 17/10/1986, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội.
Với việc Khương Văn T cất giữ 0,26 gam ma túy Heroine (từ 0,1 gam đến dưới 5 gam) nhằm mục đích sử dụng nên có đủ căn cứ kết bị cáo Khương Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo phạm tội
Tội phạm ma túy không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người mà còn là một trong những nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự, gia tăng các loại tội phạm. Hiện nay, tội phạm ma túy đang gia tăng và có diễn biến phức tạp gây khó khăn cho các lực lượng trực tiếp đấu tranh chống loại tội phạm này. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Bị cáo Khương Văn T sử dụng ma túy từ năm 2010, đã bị cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ việc sử dụng ma túy. Nay phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tiền tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân,
Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2010. Quyết định số 1083 ngày 02/7/2013 của UBND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Bị cáo T đã chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính này nên tiền sự này được xóa theo Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bị cáo T không cai được được nghiện mà vẫn thường xuyên sử dụng ma túy.
Tiền án 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 32/2019/HS-ST ngày 20/02/2019 của TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã được bị cáo T chấp hành xong hình phạt ngày 10/11/2019. Tuy nhiên, bị cáo chưa thi hành nghĩa vụ nộp án phí và bồi thường. Do đó, bị cáo T chưa được xóa án tích đối với tiền án này theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70, khoản 1 Điều 73 của Bộ luật Hình sự. Qua đó đánh giá bị cáo T có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Như phân tích trên, bị cáo chưa được xóa án tích đối với tiền án 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 32/2019/HS-ST ngày 20/02/2019 của TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Lần phạm tội này do cố ý nên bị cáo được coi là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự và chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Từ giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là nghiêm trọng. Bị cáo nghiện ma túy, đã từng bị cách ly xã hội để cai nghiện nhưng khi hết thời gian cách ly, bị cáo vẫn sử dụng ma túy. Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét hình phạt tù có thời hạn theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để xử phạt bị cáo là phù hợp, để bị cáo vừa cải tạo và có thể cai nghiện. Bị cáo T lao động tự do, không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp
Lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về nghĩa nộp vụ án phí
Bị kết án nên bị cáo T có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,
- Xử phạt bị cáo Khương Văn T 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 740MT/PC09 - CATP Hải Phòng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/01/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
- Bị cáo Khương Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.
- Bị cáo Khương Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND TP. Hải Phòng; - Công an TP. Hải Phòng (PV06); - VKSND, Công an Q. Kiến An; - Chi cục THADS Q. Kiến An; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Bị cáo; - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Phương |