vanban.org

Bản án 02/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Đinh Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Anh T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 14/11/2023. [2]. Các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Đinh Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M’ĐRẮK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày: 25 – 3 – 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang, bà Bùi Thị Thêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Công Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Bá Q – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Đinh Anh T sinh ngày 06/12/1998 tại thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: 154 L, tổ 6, phường B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở hiện nay: (Hẻm) Số 49 T (Tổ 4), phường K, thành phố P, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; con ông Đinh Q C và bà Đoàn Thị Bích H; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 10/5/2023 bị UBND phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép ma túy tại quyết định số 66/QĐ-UBND. Thời hạn quản lý 01 năm kể từ ngày 10/5/2023;

- Ngày 30/5/2020 bị Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác tại Quyết định số 2263/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2023, bị cáo hiện đang bị tạm giam – Bị cáo được trích xuất đến phiên tòa.

* Bị hại:

- Ông Trần Quốc C (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Quốc C:

Bà Lê Nguyễn Trúc V sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ 6, H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: 70 đường số 1A, khu M, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa – Có mặt tại phiên tòa.

Ông Trần Kim P sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Kim T sinh năm 1968. Địa chỉ: Số 75 đường A1, khu M, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa – Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Võ Văn Q (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Văn Q: Bà Lê Thị L sinh năm 1967. Địa chỉ: Ô 12, Lô 525 H, phường Đ, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa – Vắng mặt tại phiên tòa.

- Nguyễn H sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ 14, Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa – Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đoàn Thị Bích H sinh năm 1973. Nơi cư trú: 154 L, tổ 6, phường B, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở hiện nay: Khu phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương – Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Ông Phạm Huỳnh Nhật T1 sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn T 3, xã D, huyện K, tỉnh Khánh Hòa – Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Nguyễn Tuấn A sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn T 1, xã I, huyện T, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Dương Văn T sinh năm 1960. Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Nguyễn Đức T sinh năm 1982. Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/11/2023, Trần Quốc C, Võ Văn Q, Phạm Huỳnh Nhật T1 và Nguyễn H cùng trú tại tỉnh Khánh Hòa đi dự sinh nhật của bạn C ở thành phố P, tỉnh Gia Lai bằng xe ô tô biển số 79A-455.35. Trong lúc dự sinh nhật, C nhận được tin mẹ bị bệnh phải nhập viện điều trị nên nhờ Nguyễn Tuấn A là bạn của C thuê T xế chở C về lại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Tuấn A gọi điện thuê Đinh Anh T là T xế chạy taxi điều khiển xe ô tô biểm kiểm soát 79A – 455.35 chở C, về thành phố N thì T đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 14/11/2023, C giao xe ô tô biển kiểm soát 79A – 455.35 của C cho T điều khiển chở C, Q, H và T1 về thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Đến 09 giờ ngày 14/11/2023, T điều khiển xe ô tô đến Km 50 + 1110, Quốc lộ 26, thuộc địa phận buôn J, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, do T buồn ngủ không làm chủ được tay lái nên đã để xe ô tô tông vào thanh hộ lan nằm trên lề đường bên phải theo hướng đi từ thành phố B đi thành phố N gây ra tai nạn. Hậu quả xảy ra: Trần Quốc C và Võ Văn Q tử vong, Nguyễn H bị thương, xe ô tô bị hư hỏng.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1403/KL-KTHS, ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của Trần Quốc C là: Chấn thương cổ trước dẫn đến suy hô hấp không hồi phục; Trong máu của Trần Quốc C có các chất ma túy như sau: Amphetamin, Methamphetamin, Ecstasy, Ketamin.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1402/KL-KTHS, ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận nguyên nhân tử vong của Võ Văn Q là: Chấn thương tủy cổ; Trong máu của tử thi Võ Văn Q có các chất ma túy như sau: Amphetamin, Methamphetamin, Ecstasy, Ketamin.

- Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 796/23/KTTCT-PYKH, ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận đối với Nguyễn H: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 31%.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐG ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại đối với xe ô tô biển kiểm soát 79A-455.35 tại thời điểm tháng 11/2023 là 196.165.836 đồng.

- Tại bản kết luận giám định số: 1409/KL-KTHS, ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Dấu vết đường vân ký hiệu A4 (ghi nhận tại lẫy mở cửa phía trước bên trái xe ô tô 79A – 455.35 trong quá trình khám nghiệm phương tiện) so với dấu vân tay trên ô “Giữa phải” của mẫu dấu vân tay Đinh Anh T trong mẫu so sánh là cùng một người.

- Tại bản kết luận giám định số 1408/KL-KTHS ngày 22/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Hệ thống lái, hệ thống phanh và hệ thống lốp của xe ôtô biển số 79A-455.35 không bị sự cố ngay trước thời điểm xảy ra va chạm.

- Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 14/11/2023 của Trung tâm y tế huyện M xác định Đinh Anh T dương tính với Methylene Dioxy-MethamphentAmine (Nhóm thuốc lắc) và dương tính với Methamohetamin (Ma túy đá).

* Vật chứng tạm giữ: 01 xe ôtô biển kiểm soát 79A-455.35, nhãn hiệu: FORD; Màu sơn: Đỏ; Số loại: TERRITORY; Loại xe: ôtô con. 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự tự nguyện số 021662; 01 giấy chứng thực bản sao đúng với bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 79A-455.35 số chứng thực 004990; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số: DA 4340619; 01 giấy biên nhận thế chấp; Giấy phép lái xe hạng C số 640222009397 mang tên Đinh Anh T.

* Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk đã truy tố bị cáo Đinh Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Anh T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra trả xe ô tô 79A-455.35 và giấy tờ liên quan cho bà Lê Nguyễn Trúc V là chủ sở hữu hợp pháp của Tài sản trên.

Trả 01 giấy phép lái xe hạng C số 640222009397 mang tên Đinh Anh T cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự. Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Đinh Anh T bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Lê Nguyễn Trúc V với số tiền 196.165.836 đồng.

Chấp nhận việc gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Võ Văn Q số tiền 50.000.000 đồng.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Nguyễn H, người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Văn Q là bà Lê Thị L và người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Quốc C là ông Trần Kim P và bà Nguyễn Thị Kim T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Bích H vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Do ý thức xem thường pháp luật, không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Luật giao thông đường bộ. Bị cáo đã sử dụng chất ma túy nhưng ngày 14/11/2023 vẫn điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 79A-455.35 của Trần Quốc C chở người từ tỉnh Gia Lai về tỉnh Khánh Hòa, khi lái xe đến Km 50 + 1110, Quốc lộ 26, thuộc địa phận buôn J, xã E, huyện M, do buồn ngủ, không làm chủ được tốc độ nên bị cáo đã để xe ô tô do mình điều kiển tông vào thanh hộ lan nằm trên lề đường bên phải theo hướng đi từ thành phố B đi thành phố N, gây tai nạn. Hậu quả: Trần Quốc C và Võ Văn Q tử vong, Nguyễn H bị thương tích với tỷ lệ 31%; xe ô tô biển kiểm soát 79A-455-35 bị hư hỏng 196.165.836 đồng.

Hành vi sử dụng chất ma túy và lái xe của bị cáo gây hậu quả rất nghiêm trọng đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

“Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

đ) Làm chết 02 người. ”

Do đó, bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của trật tự giao thông đường bộ. Do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã sử dụng chất ma túy vẫn điều khiển xe ô tô dẫn đến hậu quả gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Võ Văn Q 50.000.000 đồng và được gia đình bị hại Võ Văn Q bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện hợp pháp của bị hại Trần Quốc C và bị hại Nguyễn H không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Các biện pháp tư pháp:

- Xét thấy việc tiếp tục tạm giữ vật chứng trên là không cần thiết, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại xe ô tô 79A-455.35 và giấy tờ liên quan cho bà Lê Nguyễn Trúc V. Việc trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số 640222009397 mang tên Đinh An T đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, xét thấy cần tiếp tục tạm giữ tại hồ sơ đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt sẽ trả lại.

- Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại C yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về Tài sản là xe ô tô biển kiểm soát 79A-455.35 với số tiền 196.165.836 đồng. Xét thấy yêu cầu của bà V là đúng quy định của pháp luật nên cần buộc bị cáo bồi thường cho bà V số tiền trên.

Chấp nhận gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Võ Văn Q số tiền 50.000.000 đồng; Chấp nhận gia đình các bị hại Q, C và bị hại Nguyễn H bãi nại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Tuyên bố bị cáo Đinh Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Anh T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 14/11/2023.

[2]. Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk trả xe ô tô 79A-455.35 và giấy tờ liên quan cho bà Lê Nguyễn Trúc V.

Trả cho bị cáo Đinh Anh T 01 giấy phép lái xe hạng C số 640222009397 mang tên Đinh Anh T khi bị cáo chấp hành xong hình phạt.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Đinh Anh T bồi thường cho bà Lê Nguyễn Trúc V tiền thiệt hại do Tài sản bị xâm phạm là 196.165.836 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

[3]. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Đinh Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 9.808.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ