- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ BÍCH PHƯỢNG - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2024/HS-PT Ngày: 19 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Nguyệt
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2023/TLPT-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Lê Bích P do có kháng cáo của bị cáo Lê Bích P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 149/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Bích P, sinh năm 1963 tại Bạc Liêu.
Nơi cư trú: số 66/239, Khóm D, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bình M và bà Tạ Kim A; có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22 tháng 7 năm 2020, bị Công an P1, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với mức phạt là 1.500.000 đồng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 16 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 11 năm 2022, Công an P1, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang bị cáo đang có hành vi ghi số đề thắng thua bằng tiền tại nhà thuê thuộc Khóm D, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Tang vật thu giữ gồm: 01 tờ lịch ngày 14 tháng 11 năm 2022 ở mặt sau có ghi hệ thống nhiều chữ số, chữ viết và chữ ký, đánh số thứ tự 01; 01 tờ giấy tập học sinh đã được xé nhỏ trên mặt giấy có ghi hệ thống nhiều chữ số, chữ viết và chữ ký, đánh số thứ tự 02; 01 điện thoại di động hiệu S, loại Galaxy A03s, màu đen, gắn sim số 0819153503; 01 điện thoại di động hiệu S, loại Galaxy S7, màu bạc, không gắn sim thuê bao; tiền Việt Nam 2.882.000đ.
Quá trình điều tra chứng minh được: kết quả cộng phơi tại tờ lịch ngày 14 tháng 11 năm 2022, đánh số thứ tự 01 và tờ giấy tập học sinh đã được xé nhỏ, đánh số thứ tự 02 là phơi số đề ghi dựa theo kết quả xổ số kiến thiết đài Bạc Liêu mở thưởng ngày 15 tháng 11 năm 2022, trong đó các con số đặt và số tiền đặt trong tờ phơi số 02 đã được chép qua tờ phơi 01, với số tiền đặt là 5.060.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 149/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Bích P phạm tội “Đánh bạc”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bích P 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 06 tháng 10 năm 2023 bị cáo kháng cáo yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; tại phiên tòa bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo vắng mặt nhưng không phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên việc xét xử vắng mặt của bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận có hành vi đánh bạc bằng hình thức số đề được thắng thua bằng tiền, mà không được Cơ quan nhà nước cho phép, trong đó số tiền tham gia đánh bạc là 5.060.000đ. Cho nên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Cấp sơ thẩm đã căn cứ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng như mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để từ đó áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thể hiện chính sách khoan hồng đối với bị cáo.
[4] Bị cáo đã từng bị phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội và tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin được hưởng án treo.
[5] Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bích P.
2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 149/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
3. Tuyên bố bị cáo Lê Bích P phạm tội “Đánh bạc”.
4. Xử phạt bị cáo Lê Bích P 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
5. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Gửi Viện kiểm sát cùng cấp; - Gửi Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Gửi CQĐT, VKS, TA xét xử sơ thẩm; - Gửi nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có); - Gửi người kháng cáo; - Gửi người có liên quan đến kháng cáo hoặc kháng nghị (nếu có); - Gửi Cơ quan THA dân sự có thẩm quyền (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |