vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: bà Vũ Thị Mai L được ly hôn ông Phạm Tất Đ.

Về con chung: xác nhận bà L và ông Đ có 02 con chung là là Phạm Thị Trang Đ1 sinh ngày 23/02/1996 và Phạm Hồng P sinh ngày 04/9/2000, hiện đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét Về tài sản chung, nhà ở, công nợ: bà L và ông Đ không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: bà Vũ Thị Mai L được ly hôn ông Phạm Tất Đ.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/01/2024
V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Minh

Bà Nguyễn Thị Dứa

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 772/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2023 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Mai L - SN 1972 (Có mặt)

HKKTT+Nơi cư trú: CHCC 4242-CT12B, Khu đô thị K, phường Đ, quận H, TP Hà Nội

- Bị đơn: Ông Phạm Tất Đ - SN 1971 (Vắng mặt)

HKKTT+Nơi cư trú: CHCC 4242-CT12B, Khu đô thị K, phường Đ, quận H, TP Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20/9/2023 và các văn bản khai tiếp theo, nguyên đơn là bà Vũ Thị Mai L trình bày:

Bà và ông Phạm Tất Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11/5/1994 tại UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng bà ở Thái Bình một thời gian rồi chuyển về sinh sống tại phường K, quận Đ; đến năm 2020 thì chuyển về sống chung tại địa chỉ CHCC 4242-CT12B, Khu đô thị K, phường Đ, quận H, TP Hà Nội. Cuộc sống chung vợ chồng bà thường có mâu thuẫn cãi vã vì bất đồng quan điểm, không chia sẻ được với nhau. Cũng vì mâu thuẫn nên thực tế dù chung sống cùng nhà nhưng ông bà mỗi người một cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau. Ông bà sống ly thân từ năm 2009 đến nay, không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung được nữa nên bà xin ly hôn ông Đ và không đồng ý đoàn tụ.

Về con chung: vợ chồng bà có 02 con chung là Phạm Thị Trang Đ1 sinh ngày 23/02/1996 và Phạm Hồng sinh ngày 04/9/2000, hiện nay đều đã trưởng thành, cháu P hiện đã có gia đình riêng. Bà không có ý kiến gì về con chung, các cháu muốn ở với ai bà đều tôn trọng.

Về tài sản chung, nhà ở, công nợ: bà không tranh chấp gì về tài sản chung vợ chồng, hai ông bà đã tự thỏa thuận và bà không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tại văn bản ngày 15/01/2024, bị đơn là ông Phạm Tất Đ trình bày:

Ông đã nhận được các văn bản của Tòa án về việc bà L làm đơn xin ly hôn. ông phải đi làm nên không có thời gian đến Tòa giải quyết. Ông không muốn ly hôn, nhưng nếu bà L kiên quyết xin ly hôn thì ông chấp nhận. Về con chung, ông Đ xác nhận vợ chồng ông có hai con chung đều đã trưởng thành như bà L đã trình bày. Các con ông bà hiện đều đang ở tại địa chỉ trên cùng bố mẹ. Ông đề nghị bà L để lại nhà cho các con vì cháu thứ hai hiện đã có gia đình riêng, không có chỗ ở nào khác. Về tài sản chung, ông Đ xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không tranh chấp.

Tại phiên toà hôm nay:

Bà L giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên. Vợ chồng bà bắt đầu mâu thuẫn từ khoảng năm 2003, nguyên nhân do ông Đ có người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con. Bà không đồng ý đoàn tụ vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống ly thân đã lâu, đến nay không thể hàn gắn được. Về con chung, vợ chồng bà có hai con chung như đã trình bày, hiện đều đã trưởng thành trên 18 tuổi

Ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai có quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định về tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Mai L đối với ông Phạm Tất Đ. Về con chung: ông bà có 02 con chung là Phạm Thị Trang Đ1 sinh ngày 23/02/1996 và Phạm Hồng P sinh ngày 04/9/2000, hiện nay đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không xét. Vợ chồng không tranh chấp gì về tài sản chung nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Bà Vũ Thị Mai L và ông Phạm Tất Đ kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/5/1994 tại UBND phường Q, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Thái Bình. Như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp tiến bộ. Sau khi kết hôn, trong cuộc sống chung, vợ chồng luôn mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về cách sống, về quan điểm, không thể khắc phục được, ông bà sống ly thân đã lâu. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng ông Đ không hợp tác, không đến Tòa để giải quyết vụ án. Ông Đ không muốn ly hôn nhưng không tham gia hòa giải, không đưa ra được phương án để vợ chồng đoàn tụ. Về phía bà L không đồng ý hòa giải, không chấp nhận đoàn tụ và đề nghị được ly hôn. Tại phiên tòa, bà L vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, xét thấy tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 51, 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Mai L đối với ông Phạm Tất Đ.

[2] Về con chung: bà L và ông Đ có 02 con chung là Phạm Thị Trang Đ1 sinh ngày 23/02/1996 và Phạm Hồng P sinh ngày 04/9/2000, hiện đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét

[3] Về tài sản chung, nhà ở, công nợ: bà L và ông Đ không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu sau này có tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án dân sự khác.

[4] Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Tòa án đã rất nhiều lần phải đến tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Đ. Tuy nhiên ông Đ không hợp tác, không đến Tòa để giải quyết việc ly hôn. Tại phiên tòa, ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy việc xét xử và ra bản án vắng mặt đối với ông Đ là phù hợp với khoản 2 Điều 227 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015

[5] Về án phí: bà Loan phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; các Điều 271, 273 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 51, 54, 56, 58 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Điều 26 - Luật Thi hành án

- Khoản 5 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Vũ Thị Mai L được ly hôn ông Phạm Tất Đ.

2. Về con chung: xác nhận bà L và ông Đ có 02 con chung là là Phạm Thị Trang Đ1 sinh ngày 23/02/1996 và Phạm Hồng P sinh ngày 04/9/2000, hiện đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét

3. Về tài sản chung, nhà ở, công nợ: bà L và ông Đ không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: bà Vũ Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp tại biên lai số 0010794 ngày 24/10/2023 tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận H, TP Hà Nội. Bà L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bà L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Ông Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 - Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ