vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hà Văn H. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hà Minh C, sinh ngày cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao cho anh Hà Văn H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc,…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19-3-2024

“V/v: Tranh chấp về ly hôn,

nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quang Độ.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Quang Chỉnh và bà Hà Thị Thu.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Quỳnh Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Quang Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại Phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị T - sinh năm 1992.

ĐKTT: thôn Phương Nam, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở hiện nay: phố Hòa Bình, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Bị đơn: Hà Văn H - sinh năm 1986.

Địa chỉ: thôn Phương Nam, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/8/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn H được tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, Ngày 08/8/2018, chị và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn, chị đã từng kết hôn 02 lần và đã ly hôn, còn anh H cũng đã từng kết hôn 01 lần và cũng đã ly hôn; Anh chị có thời gian tìm hiểu nhau khoảng hơn 06 tháng; sau khi kết hôn, anh chị về sống cùng với bố mẹ đẻ của anh H là ông Hà Văn N và bà Tô Thị G tại thôn Phương Nam, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị và anh H bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau; anh H không chịu làm ăn kinh tế và đóng góp chi phí sinh hoạt gia đình cùng với chị; anh H không phụ giúp chị chăm lo con cái. Năm 2021, chị có sinh cháu thứ hai nhưng anh H không hề thay đổi, không quan tâm, chăm sóc chị và các con khi ốm đau; chi phí sinh hoạt chung của gia đình anh chị không phải lo toan nhưng tiền bỉm, sữa, con đau ốm phải do một mình chị chịu. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, chị chuyển lên sống tại nhà anh trai tại phố Hòa Bình, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, giữa chị và anh H không có biện pháp hàn gắn tình cảm. Nay anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh H.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Hà Văn H có 02 (hai) con chung tên là Hà Thị H1, sinh ngày 23/5/2019 và Hà Minh C, sinh ngày 08/11/2021. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Minh C cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Hà Văn H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Thị H1 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Hường vẫn do anh H trực tiếp nuôi dưỡng và được đi học đầy đủ; còn chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chí. Hiện chị đang làm lao động tự do (Thu mua sắt vụn tại phố Hòa Bình, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên); chị đảm bảo đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Hà Văn H không có tài sản chung, không vay nợ chung với cơ quan, cá nhân hay tổ chức nào. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Hà Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quá trình tìm hiểu, kết hôn và sống chung với nhau như chị Hoàng Thị T trình bày là đúng. Còn về mâu thuẫn giữa anh và chị T là do giữa anh và chị T bất đồng quan điểm sống nhưng theo anh đó cũng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, vợ chồng nào cũng gặp phải và chưa đến mức phải ly hôn. Việc chị T cho rằng anh không quan tâm vợ con, không chịu đi làm là không đúng; bởi lẽ anh không biết nói những lời hay, nhưng khi chị T nhờ gì anh đều làm hết; việc chăm sóc con cái khi ốm đau là do ở nhà vẫn còn con nhỏ và con riêng của chị T; anh không đóng góp tiền bỉm sữa với chị T vì anh không đi làm ăn gì, chỉ ở nhà phục giúp việc nông của gia đình nên anh không có tiền, anh có xin đi làm việc công ty nhưng do tình trạng sức khỏe anh không tốt nên công ty không nhận. Đến nay, anh vẫn còn tình cảm với chị T, các con cũng còn nhỏ, mong muốn của anh là vợ chồng được đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc con cái. Do đó, anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị T.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị T có 02 (hai) con chung tên là Hà Thị H1, sinh ngày 23/5/2019 và Hà Minh C, sinh ngày 08/11/2021. Do anh không đồng ý ly hôn nên không có yêu cầu giải quyết về con. Nhưng nếu Toà án có giải quyết ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Hoàng Thị T không có tài sản chung, không vay nợ chung với cơ quan, cá nhân hay tổ chức nào. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án đã đến địa chỉ cư trú của chị T và anh H tại thôn Phương Nam, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh để xác minh về mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của anh chị và được Trưởng thôn cung cấp thông tin: chị T và anh H có kết hôn tại chính quyền địa phương và cùng cư trú tại thôn Phương Nam, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng giữa anh chị chính quyền địa phương được biết là cũng có mâu thuẫn nhưng anh chị không yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải mẫu thuẫn vợ chồng anh chị. Theo phản ánh của các hộ dân liền kề địa phương cũng nắm được là do anh chị bất đồng quan điểm cả về cách sống và cả về kinh tế dẫn đến việc từ đầu năm 2023 chị T đã bỏ nhà đi, anh chị sống ly thân từ thời gian đó đến nay; khi ly thân cháu lớn vẫn do anh H trực tiếp nuôi dưỡng còn cháu bé được chị T đưa đi cùng. Nay chị T có yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên tại phiên tòa:

Về tố tụng: trong quá trình từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Giao con chung Hà Thị H1, sinh ngày 23/5/2019 cho anh Hà Văn H nuôi dưỡng cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao con chung Hà Minh C, sinh ngày 08/11/2021 cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T và anh Hà Văn H không có tài sản chung, không vay nợ chung với cơ quan, cá nhân hay tổ chức nào. chị T và anh H không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn – chị Hoàng Thị T khởi kiện “về việc Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” đối với bị đơn – anh Hà Văn H (Nơi cư trú: thôn Phương Nam, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự do đó việc Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Hà Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận cho đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chị T trình bày là do chị và anh H bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau; anh H không chịu làm ăn kinh tế và đóng góp chi phí sinh hoạt gia đình cùng với chị, không hề quan tâm, chăm sóc chị; quá trình hòa giải và tại phiên tòa, anh H cho rằng tuy anh và chị T có những bất đồng trong cuộc sống vợ chồng nhưng đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ mà gia đình nào cũng có, anh vẫn còn tình cảm với chị T, hơn nữa các con còn nhỏ nên anh mong muốn vợ chồng được đoàn tụ; thời gian tới anh sẽ tiếp tục xin đi làm công ty để có thêm thu nhập cho gia đình. Tòa án đã tạo điều kiện để anh chị quay về đoàn tụ nhưng đến hiện tại anh chị vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm và vẫn tiếp tục sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị T vẫn một mực cương quyết xin ly hôn. anh H cũng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị T.

[3] về con chung: chị Hoàng Thị T và anh Hà Văn H có 02 (hai) con chung tên là Hà Thị H1, sinh ngày 23/5/2019 và Hà Minh C, sinh ngày 08/11/2021.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Minh C, giao cháu Hà Thị H1 cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Hà Văn H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.

Hội đồng xét xử thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xét đến điều kiện để nuôi con thì thấy: Nguyện vọng được nuôi con của chị T và anh H là chính đáng, tuy nhiên đối với việc anh H yêu cầu được nuôi hai con là không phù hợp, vì hiện nay cháu Hà Minh C chưa đủ 36 tháng tuổi, theo quy định của pháp luật thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con; Về điều kiện nuôi con của chị T thì xét thấy, từ khi chị T và anh H sống ly thân, cháu Chí vẫn do chị T trực tiếp nuôi dưỡng tốt mặt khác theo như chị T trình bày trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, trước đó chị đã từng kết hôn 02 lần; lần thứ nhất khoảng năm 2019 chị kết hôn với anh Bùi Huy Mạnh, có 01 con chung tên là Bùi Thị Huyền, sinh năm 2010. Năm 2013, chị T và anh Manh ly hôn, con chung Bùi Thị Huyền do anh Mạnh trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Được một thời gian chị kết hôn lần 2 với anh Hoàng Đình Thẩm và có một con chung tên là Hoàng Thị Quỳnh Như, sinh năm 2014; năm 2017, chị và anh Thẩm ly hôn, con chung Hoàng Thị Quỳnh Như giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Thẩm không phải cấp dưỡng nuôi con chung; hiện tại chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Quỳnh Như và cháu Hà Minh C, chị T hiện đang làm lao động tự do, thu nhập hàng tháng được 8.000.000 đồng cũng ổn định để nuôi con. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị T giao cho mỗi người nuôi một cháu là phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên và quy định của pháp luật, các bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T và anh H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị T và anh Hà Văn H không có tài sản chung, không vay nợ chung với cơ quan, cá nhân hay tổ chức nào. Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; Điều 55, Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị T.

2. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hà Văn H.

3. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hà Minh C, sinh ngày cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao cho anh Hà Văn H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hà Thị H1, sinh ngày cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Hoàng Thị T và anh Hà Văn H không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị T và anh Hà Văn H không có tài sản chung, không vay nợ chung với cơ quan, cá nhân hay tổ chức nào. Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004314 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. chị T đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ